Quy phạm xung đột về tài sản và quyền đối với tài sản trong TPQT

Bài viết phân tích Quy phạm xung đột về tài sản và quyền đối với tài sản trong tư pháp quốc tế (Quy định tại Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015)

1. Quy phạm xung đột là gì ?

Trong tư pháp quốc tế, khi xuất hiện xung đột pháp luật tức là xuất hiện hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể tham gia điều chỉnh một quan hệ và không phải lúc nào các quan hệ này cũng được điều

chỉnh bằng các quy phạm thực chất, nên các cơ quan có thẩm quyền phải lựa chọn một trong số hai hay nhiều hệ thống pháp luật liên quan để điều chỉnh quan hệ đang xem xét. Tuy nhiên, sự lựa chọn này không phải do ngẫu nhiên mà phải trên cơ sở pháp luật quy định. Quy phạm xung đột chính là căn cứ pháp lí của sự lựa chọn này.

Quy phạm xung đột là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể. Quy phạm xung đột luôn mang tính chất “dẫn chiếu” nên tại khoản 1 Điều 668 BLDS năm 2015 quy định như sau: “Pháp luật được dẫn chiếu đến bao gồm quy định về xác định pháp luật áp dụng và quy định quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này”. Pháp luật được dẫn chiếu đến bao gồm cả phần luật xung đột và phần luật thực định của hệ thống pháp luật được dẫn chiếu hay toàn bộ pháp luật của nước có liên quan.

Quy phạm xung đột về tài sản và quyền đối với tài sản trong TPQT
Quy phạm xung đột về tài sản và quyền đối với tài sản trong TPQT

2. Quy phạm xung đột về tài sản và quyền đối với tài sản

Quy phạm xung đột về tài sản và quyền đối với tài sản được quy định tại hai điều đầu tiên tại chương XXVII BLDS 2015, đó là Điều 677 và Điều 678.

Tài sản là đối tượng của nhiều quan hệ pháp luật quan trọng như sở hữu, thừa kế, hợp đồng, bồi thường thiệt hại… với mỗi loại tài sản khác nhau pháp luật các nước có thể có các cách thức giải quyết và áp dụng khác nhau. Tài sản có thể gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình, tuy nhiên Điều 677 chỉ đề cập đến loại tài sản hữu hình và chia loại tài sản này thành động sản hoặc bất động sản chủ yếu dựa vào tính di chuyển của tài sản, hay tính cố định của tài sản. Bởi mỗi quốc gia có những cách xác định tài sản đâu là động sản và bất động sản khác nhau nên việc phân định chúng là quan trọng và cần thiết để không gây cản trở ghi áp dụng pháp luật khác nhau có thể có những kết quả khác nhau.

Điều 677 BLDS năm 2015 quy định pháp luật áp dụng đối với việc phân loại tài sản là động sản, bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản. Theo đó tài sản ở đâu thì sẽ căn cứ theo pháp luật nước đó. Ở quy định này, pháp luật Việt Nam căn cứ vào hệ thuộc luật nơi có tài sản để điều chỉnh quan hệ – Đây là hệ thuộc luật cơ bản nhất để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến tài sản, bởi tài sản trong các quan hệ này chính là điểm kết nối, yếu tố trung tam của quan hệ, thể hiện sự khách quan nhất cho tất cả các bên tham gia quan hệ cũng như các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết vụ việc.

Những quy định về quy phạm xung đột liên quan đến phân loại tài sản và quyền đối với tài sản theo bộ luật dân sự năm 2015 cơ bản giống với quy định trong bộ luật dân sự năm 2005. Tuy nhiên bộ luật dân sự năm 2015 đã tách ra thành các điều luật khác nhau về phân loại tài sản và quyền đối với tài sản. Trong khi bộ luật dân sự năm 2005 lại khái quát thành một điều luật về sở hữu tài sản. Khi quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài phát sinh sẽ phát sinh xung đột pháp luật. Để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực sở hữu, BLDS năm 2015 đã xây dựng quy phạm xung đột ở Điều 678 với 2 nội dung được thể hiện ở 2 khoản.

Theo khoản 1 Điều 678 pháp luật Việt Nam áp dụng chung cùng một hệ thuộc luật là luật của nước nơi có tài sản đối với tài sản là động sản và bất động sản trong quan hệ liên quan đến xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Tuy nhiên, riêng tài sản là động sản đang trên đường vận chuyển thì quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản sẽ áp dụng hệ thuộc luật do các bên thỏa thuận lựa chọn hoặc luật của nước nơi có động sản được chuyển đến. Sự thay đổi hệ thuộc luật ở đây là cần thiết và hợp lý vì:

Thứ nhất, quan hệ sở hữu là quan hệ giữa cá nhân, pháp nhân với nhau, các chủ thể ngang bằng nhau về quyền và bình đẳng với nhau nên việc thỏa thuận luôn được ưu tiên hàng đầu. Vì vậy, khoản 2 Điều 678 BLDS năm 2015 cho phép các bên chọn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là hợp lý.

Thứ hai, pháp luật quy định luật của nước nơi có động sản được chuyển đến sẽ điều chỉnh quan hệ về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản bởi nếu áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản thì cơ quan có thẩm quyền sẽ rất khó khăn trong việc xác định vị trí tồn tại của tài sản nhất là khi tài đó là tài sản di động. Trong trường hợp xác định được địa điểm tồn tại của tài sản thì hệ thuộc luật nơi có tài sản sẽ tạo sự thiếu ổn định, bị động và không mong muốn điều chỉnh quan hệ này.

Bài viết cùng chủ đề Phân tích Quy phạm xung đột về tài sản trong tư pháp quốc tế:

Quy phạm xung đột về sở hữu trí tuệ trong tư pháp quốc tế

Phân tích quy phạm xung đột về thừa kế, di chúc, giám hộ

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Phân tích Quy phạm xung đột về tài sản trong tư pháp quốc tế. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *