Vì sao cần quy định các trường hợp không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng?

Thuế giá trị gia tăng là gì?

Căn cứ theo điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách nhà nước theo mức độ tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. 

Vì sao cần quy định các trường hợp không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng?
Vì sao cần quy định các trường hợp không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng?

Vì sao cần quy định các trường hợp không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng?

Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng được quy định chi tiết tại Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng (sửa đổi bởi Thông tư 151/2014/TT-BTC và thông tư 26/2015/TT-BTC). Các nhà làm luật cần quy định các trường hợp không thuộc diện chịu thuế này bởi các lí do cơ bản sau:

Thứ nhất, một số nhóm ngành hàng, dịch vụ có nhu cầu tiêu dùng phổ biến. Ví dụ như: dịch vụ y tế, dạy học, học nghề; sản phẩm muối, trồng trọt, chăn nuôi… đều là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho dân chúng. Xuất phát từ chức năng xã hội của nhà nước, giải quyết những đòi hỏi và nhu cầu cần thiết nhất phát sinh từ đời sống của người dân. Đối với những sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho dân chúng, cần phải tạo điều kiện tốt nhất để những sản phẩm, dịch vụ đó đến được với mọi người dân. Đó cũng chính là yếu tố quan trọng để hướng tới phát triển con người, phát triển đất nước.

Thứ hai, các mặt hàng đặc biệt phục vụ an ninh quốc phòng. Xuất phát từ chức năng chính trị của nhà nước. Vì tính đặc thù của các mặt hàng phục vụ an ninh quốc phòng là được quản lý rất chặt chẽ, các hoạt động mua bán mặt hàng này được quản lý, kiểm duyệt đặc biệt; và vì lợi ích chung, vì trật tự an toàn của cả quốc gia nên các mặt hàng này không thể bị đánh thuế giá trị gia tăng.

Thứ ba, thực hiện cam kết của Việt Nam đối với các quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh. Ví dụ như: dịch vụ tín dụng, kinh doanh chứng khoán, thiết bị chuyên dùng nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được. Lý do này được đưa ra xuất phát từ xu hướng hội nhập quốc tế, nước ta muốn phát triển, muốn hợp tác song phương và đa phương trên toàn thế giới, thì chúng ta có nghĩa vụ phải thực hiện các cam kết mình đã đặt ra. Bên cạnh đó, việc quy định các hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng vì lý do thúc đẩy sản xuất kinh doanh xuất phát từ chức năng kinh tế của nhà nước. Nhà nước xây dựng môi trường tốt nhất để giải phóng các tiềm năng phát triển kinh tế, nhất là đối với các hàng hóa dịch vụ có tiềm năng phát triển kinh tế cao nhưu dịch vụ tín dụng và kinh doanh chứng khoán.

Thứ tư, thực hiện nguyên tắc chỉ đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam. Do vậy, trường hợp hàng không thực tế tiêu thụ trên lãnh thổ Việt Nam như hàng quá cảnh, hàng mượn đường, hàng tạm nhập tái xuất đều không nằm trong diện chịu thuế. Bởi lẽ các mặt hàng này tuy xuất hiện trong lãnh thổ Việt Nam trong một thời điểm nhất định nhưng trên thực tế không được tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam.

Bài viết cùng chủ đề:

Quy định về hoạt động quyết toán ngân sách nhà nước

Các điều kiện chi ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Vì sao cần quy định các trường hợp không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng?. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *