Tội sử dụng trái phép tài sản – Điều 177 Bộ luật hình sự

Tội sử dụng trái phép tài sản

Tội sử dụng trái phép tài sản có cấu thành Hình thức

Tội sử dụng trái phép tài sản
Tội sử dụng trái phép tài sản

Khách thể của tội sử dụng trái phép tài sản

Xâm hại quan hệ sở hữu (cụ thể là quyền sử dụng).

Đối tượng tác động: Là tài sản (tài sản phải thoả mãn việc sử dụng không làm cho giá trị tài sản bị mất đi).

Tài sản phải có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên. (Hoặc người phạm tội đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ không cần xem xét điều kiện về giá trị tài sản để định tội)

TPHT từ thời điểm Người phạm tội có hành sử dụng trái phép tài sản.

Mặt chủ quan của Tội sử dụng trái phép tài sản

Lỗi: Cố ý trực tiếp.

Động cơ của Tội sử dụng trái phép tài sản

Vụ lợi: Qua việc sử dụng trái phép tài sản, người phạm tội nhằm thu về lợi ích vật chất cho cá nhân hoặc nhóm cá nhân. Nếu không vì vụ lợi thì hành vi sử dụng trái phép tài sản không cấu thành tội sử dụng trái phép tài sản.

Mục đích của Tội sử dụng trái phép tài sản: Mục đích là mong muốn khai thác giá trị sử dụng của tài sản.

Chủ thể của Tội sử dụng trái phép tài sản

Là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt khách quan của Tội sử dụng trái phép tài sản

Hành vi: Hành vi phạm tội của tội này là hành vi sử dụng trái phép tài sản. Trong đó hành vi sử dụng được hiểu là hành vi khai thác giá trị sử dụng của tài sản nhưng không làm cho chủ tài sản mất hẳn tài sản.

Tính trái phép của hành vi sử dụng thể hiện ở chỗ:

   +, Người phạm tội tự ý sử dụng tài sản của người khác (như lái ô tô đi trở hàng thuê, sau đó lại trả về chỗ cũ)

   +, Hoặc người phạm tội sử dụng tài sản thuộc phạm vi quản lý của hình không đúng quy định (thuyền trưởng dùng tàu của xí nghiệp đi trở hàng thuê để lấy tiền cá nhân).

Chú ý: Cần phân biệt hành vi sử dụng trái phép với hành vi chiếm đoạt. Chỉ coi là sử dụng trái phép nếu hành vi chỉ nhằm khai thác giá trị sử dụng của tài sản trong thời gian  nhất định và do vậy chỉ làm cho chủ tài sản mất khả năng chiếm hữu, sử dụng trong khoảng thời gian nào đó. Sau thời gian này chủ tài sản sẽ có lại tài sản của mình.

Hậu quả: Điều luật không quy định hậu quả là dấu hiệu bắt buộc, chỉ cần có hành vi sử dụng trái phép tài sản.

Mối quan hệ nhân quả: Hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc để định tội nên không xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.

Hình phạt:

Điều luật quy định 3 khung hình phạt chính và 1 khung hình phạt bổ sung.

Chú ý Chỉ coi là sử dụng trái phép nếu hành vi chỉ nhằm khai khác giá trị sử dụng của tài sản trong một thời gian nhất định và do vậy chỉ làm cho chủ tài sản mất khả năng chiếm hữu, sử dụng trong một khoảng thời gian. Sau thời gian này chủ tài sản sẽ có lại tài sản của mình.

Trường hợp cũng chỉ sử dụng nhưng sau khi sử dụng lại vứt bỏ tài sản thì hành vi đã thực hiện không coi là sử dụng trái phép.

Bài viết cùng chủ đề:

Tội chiếm giữ trái phép tài sản – yếu tố Cấu thành tội phạm

Phân tích cấu thành tội phạm: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Tội sử dụng trái phép tài sản – Điều 177 Bộ luật hình sự. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *