Tội chống người thi hành công vụ – Điều 330 BLHS

Khách thể tội chống người thi hành công vụ

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công.

Tội chống người thi hành công vụ - Điều 330 BLHS
Tội chống người thi hành công vụ – Điều 330 BLHS

Đối tượng tác động tội chống người thi hành công vụ

Đối tượng tác động  là người thi hành công vụ, thông qua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ công. Người thi hành công vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao một nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc, nếu chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc nhiệm vụ mà bị xâm phạm thì không thuộc trường hợp chống người thi hành công vụ, mà tuỳ trường hợp cụ thể để xác định một tội phạm khác có tình tiết vì lý do công vụ của nạn nhân.

Ví dụ: Ông Vũ Văn K là Trưởng công an xã đã tổ chức bắt Nguyễn Văn T, Bùi Quốc H và Mai Đức Q tiêm chích ma tuý, nên Bùi Quốc B là cha của Bùi Quốc H đã đón đường đánh ông K gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 10%. Hành vi của B là hành vi phạm tội cố ý gây thương tích thuộc trường hợp quy định tại điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự ( vì lý do công vụ của nạn nhân).

Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người thi hành công vụ lại là người làm trái pháp luật mà bị xâm phạm thì người có hành vi  xâm phạm không phải là hành vi chống người thi hành công vụ.

Mặt chủ quan tội chống người thi hành công vụ

Lỗi tội chống người thi hành công vụ

Người phạm tội chống người thi hành công vụ thực hiện hành vi do cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi chống người thi hành công vụ, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Mặt khách quan tội chống người thi hành công vụ

Hành vi tội chống người thi hành công vụ

Người phạm tội chống người thi hành công vụ có thể thực hiện một trong các hành vi khách quan như:

Dùng vuc lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ hoặc ep họ thực hiện hành vi trái PL.

Đe dọa dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ hoặc ep họ thực hiện hành vi trái PL.

Dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ hoặc ep họ thực hiện hành vi trái PL.

Dùng vũ lực

Hành vi dùng vũ lực là hành vi (hành động) mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thể của người thi hành công vụ như: Đấm, đá, đẩy, bóp cổ, trói, bắn, đâm, chém… Nói một cách khái quát là hành vi dùng sức mạnh vật chất nhằm vào vào cơ thể người thi hành công vụ nhằm làm cho họ bị đau đớn mà không thực hiện được nhiệm vụ của mình.

Tuy nhiên, hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ có thể làm cho người thi hành công vụ bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ, nhưng chưa gây ra thương tích đáng kể (không có tỷ lệ thương tật).

 Đe doạ dùng vũ lực

Hành vi đe doạ dùng vũ lực là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe doạ người thi hành công vụ nếu không ngừng việc thực hiện nhiệm vụ thì sẽ dùng vũ lực, có thể ngay tức khắc hoặc sau đó một thời gian.

Dùng thủ đoạn

Dùng thủ đoạn khác là ngoài hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ra, người phạm tội còn dùng những thủ đoạn khác không cho người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ, những thủ đoạn này có thể là hành động hoặc không hành động.

. Ví dụ: nằm trước đầu xe ủi không cho lực lượng làm nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ, nên họ đành phải cho xe ủi về, nhiều lần như vậy

Ép buộc người thi hành công thực hiện hành vi trái pháp luật là bằng nhiều cách khác nhau tác động đến người thi hành công vụ để buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật.

Nếu chỉ căn cứ vào tính chất của hành vi ép buộc thì không có liên quan gì đến tội danh “chống người thi hành công vụ”, bởi vì việc ép buộc người khác thực hiện một hành vi trái pháp luật không phải là chống lại họ mà buộc họ phải làm một việc sai trái ngoài ý muốn của họ. Hành vi này, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc ép buộc người thi hành công vụ.

Ngay trong lĩnh vực này, cũng chỉ giới hạn ở hành vi ép buộc người đang thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, do tính chất của việc bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ công và do hành vi ép buộc mà làm cho nhiệm vụ không được hoàn thành, nên coi hành vi này đối với người thi hành công vụ cũng là hành vi chống người thi hành công vụ.

Hậu quả tội chống người thi hành công vụ

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan nêu trên là tội phạm đã hoàn thành.

Nếu hành vi dùng vũ lực đã gây ra thương tích cho người thi hành công vụ, có tỷ lệ thương tật hoặc gây ra cho người thi hành công vụ bị chết, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác hoặc tội giết người với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt “để cản trở người thi hành công vụ” hoặc “giết người đang thi hành công vụ”

Như vậy, hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về ba tội tuỳ thuộc vào hậu quả mà hành vi này gây ra cho người thi hành công vụ.

Người có hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ khi chưa gây ra thương tích (có tỷ lệ thương tật) hoặc gây ra chết người.

Đây cũng là vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn xét xử còn ý kiến khác nhau. Rõ ràng người phạm tội có mục đích chống lại người thi hành công vụ nhưng vì nạn nhân có tỷ lệ thương tật nên phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.

Trong khi đó khoản 1 Điều 104 và khoản 1 Điều 257 có khung hình phạt như nhau, lẽ ra trong trường hợp người phạm tội chống người thi hành công vụ mà gây thương tích cho nạn nhân phải bị phạt nặng hơn người chưa gây ra thương tích cho nạn nhân.

Tuy nhiên, về đường lối xử lý thực tiễn xét xử cho thấy, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp do có hành vi chống người thi hành công vụ mà dẫn đến việc thực hiện nhiệm vụ của người thi hành công vụ bị gián đoạn hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Bài viết cùng chủ đề:

Cấu thành tội hành hạ người khác (điều 140)

Cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Cấu thành Tội chống người thi hành công vụ – Điều 330. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *