Phân tích các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện

Phân tích các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện

CÁC TRƯỜNG HỢP TÒA ÁN TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN HÀNH CHÍNH.

Các trường hợp không đồng ý với một quyết định hành chính hay hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp đơn khởi kiện đều được tòa án chấp nhận thụ lý. Có những trường hợp do pháp luật quy định Toà án có thể trả lại đơn khởi kiện. 

Phân tích các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện
Phân tích các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện

Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền 

Tại điểm c Khoản 3 Điều 121 Luật TTHC có quy đinh Tòa án phải: Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác”. Tuy Luật quy định người khởi kiện có trách nhiệm gửi đơn khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền song có thể do kiến thức pháp luật của cá nhân trực tiếp thực hiện việc khởi kiện vụ án hành chính còn hạn chế, hoặc do việc xác định tòa án có thẩm quyền thụ lí đơn khởi kiện phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan (kết quả giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ việc, tòa án cấp tỉnh lấy những vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện lên để giải quyết, …) nên trong  nhiều trường hợp, tòa án đã tiếp nhận đơn khởi kiện không có thẩm quyền giải quyết vụ việc được khởi kiện. Khi đó, tòa án đã tiếp nhận đơn khởi kiện không được trả lại đơn khởi kiện hay tiến hành thu lí vụ án hành chính mà phải chuyển đơn khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền.

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện 

Quyền khởi kiện được quy định cụ thể tại Điều 115 Luật TTHC. Điều Luật quy định các loại chủ thể có quyền khởi kiện đối với từng loại khiếu kiện tương ứng như: đối với loại khiếu kiện là quyết định hành chính, hành vi hành chính thì chủ thể có quyền khởi kiện là cá nhân, hoặc cơ quan, tổ chức; loại khiếu kiện là quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì người khởi kiện có thể là cá nhân hoặc tổ chức mà không có chủ thể là cơ quan, còn loại khiếu kiện là danh sách cử tri thì chỉ  có thể là cá nhân. Điều luật cũng quy định về thời điểm họ được thực hiện quyền khởi kiện của mình (Ví dụ: với các loại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc thì ngay khi nhận được các quyết định đó, nếu họ cho rằng các quyết định hành chính đó xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình thì họ có thể thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính ngay để yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì người khởi kiện chỉ có thể bắt đầu được thực hiện quyền khởi kiện của mình khi nhận được quyết định đó; …). 

Vậy, quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo thủ tục do pháp luật quy định (Điều 5). Trong đó, chủ thể khởi kiện hành chính phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 8 Điều 3, Điều 5, Điều 54 và Điều 115 Luật TTHC, là phải có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi tố tụng hành chính và đáp ứng đúng phương thức khởi kiện. Quyền khởi kiện chỉ được thực hiện bởi một chủ thể nhất định và chủ thể được thực hiện quyền khởi kiện khi lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người mình đại diện bị xâm phạm. Như vây, nếu thiếu yếu tố trên sẽ là căn cứ để Tòa án không thụ lý vụ án và trả đơn khởi kiện theo điểm a khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính.

Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ 

Người khởi kiện là thuật ngữ chỉ tư cách của cá nhân hay cơ quan, tổ chức khi tham gia tố tụng trong vụ án hành chính. Căn cứ vào khoản 11 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính, người khởi kiện vụ án hành chính có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để Tòa án thụ lý vụ án thì người khởi kiện phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 54 Luật Tố tụng hành chính. Theo quy định tại Điều 54, Luật Tố tụng hành chính thì:  Năng lực hành vi tố tụng hành chính “là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính”. Người khởi kiện là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính. Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng hành chính của họ được xác định theo quyết định của Tòa án. Người khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính 

Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó” thì thẩm phán có quyền trả lại đơn khởi kiện. Cá nhân, cơ quan, tổ chức muốn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện mà pháp luật tố tụng hành chính quy định. Nếu họ không thỏa mãn các điều kiện khởi kiện thì vụ việc sẽ không được Tòa án thụ lý giải quyết. Điều kiện khởi kiện vụ án hành chính bao gồm: Đúng đối tượng (Điều 3 và Điều 30 Luật TTHC); người khởi kiện có năng lực chủ thể (Khoản 8 Điều 3, Điều 54 Luật TTHC); phương thức khởi kiện (Điều 115 Luật TTHC); thời hiệu khởi kiện (Điều 116); thủ tục khởi kiện (Điều 117); hình thức và nội dung đơn khởi kiện (Điều 118); Tòa án có thẩm quyền (Điều 31 và 32); thụ lí vụ án hành chính (Điều 23 Luật TTHC). 

Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật 

Theo quy định của pháp luật, nếu sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án rồi thì các đương sự chỉ có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm chứ không được quyền tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính. Do đó, Toà án căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.

Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

Thẩm quyền giải quyết của Toà án là một trong các điều kiện để khởi kiện vụ án hành chính. Nghĩa là nếu sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì sẽ không được Tòa án thụ lý giải quyết. Thẩm quyền giải quyết của Toà được quy định tại Điều 31 và 32 Luật Tố tụng hành chính.

Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 của Luật Tố tụng hành chính

Nếu như trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định trường hợp người khởi kiện vừa khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vừa nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án thì thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc Tòa án (Điều 13 Pháp lệnh) thì kể từ Luật Tố tụng hành chính 2010 đến Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định trường hợp này, thẩm quyền giải quyết sẽ theo sự lựa chọn của người khởi kiện: Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết và có văn bản thông báo cho Tòa án”.

Việc quy định như vậy đã tạo điều kiện cho người khởi kiện tự do lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Nếu người khởi kiện lựa chọn Toà án giải quyết thì Toà án thụ lý giải quyết vụ án đồng thời thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại biết và yêu cầu chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Toà án. Ngược lại, người khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.

Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật Tố tụng hành chính 

Để Tòa án thụ lý vụ án thì đơn khởi kiện phải đảm bảo các nội dung theo quy định tại Điều 118 Luật Tố tụng hành chính. Nếu đơn khởi kiện không có đủ các nội dung theo quy định thì Toà án sẽ thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung và thời hạn sửa đổi, bổ sung là 10 ngày làm việc, kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo của Toà án. Trong trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng nội dung quy định trên thì Toà án tiếp tục việc thụ lý vụ án. Còn trường hợp, không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Toà án thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.

Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật Tố tụng hành chính mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lí do chính đáng 

Sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện xét thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí trừ những trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.

Sau khi nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Toà án sẽ thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, nếu hết thời hạn trên mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.

Tuy nhiên, không phải bao giờ việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện cũng là đúng. Trên thực tế có rất nhiều trường hợp Tòa án đã trả lại đơn kiện trái với quy định của pháp luật. Chính vì vậy, Luật cũng quy định đương sự có quyền khiếu nại về việc trả lại đơn khiếu nại. Theo đó, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện do Tòa án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện (khoản 1 Điều 124).

Luật Tố tụng hành chính là công cụ sắc bén để cá nhân, cơ quan tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình chống lại sự xâm phạm từ phía công quyền. Do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính nói riêng và luật tố tụng hành chính nói chung là việc cần tính đến trong thời gian tới của các nhà lập pháp Việt Nam. 

Bài viết cùng chủ đề:

Phân biệt viên chức với công chức, trách nhiệm kỉ luật của viên chức

Các nguyên tắc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính

Chuyên mục: Luật hành chính

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Phân tích các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *