Thời hiệu xử lí vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính là gì ?

Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm theo quy định của pháp luật phải xử lí vi phạm hành chính”.

Thời hiệu xử lí vi phạm hành chính

Vấn đề thời hiệu trong xử phạt vi phạm hành chính cũng là vấn đề tương đối phức tạp. Nhằm mục đích phát hiện, xử lí và thi hành quyết định xử lí các vi phạm hành chính đã xảy ra một cách nhanh chóng, kịp thời, pháp luật hiện hành đã quy định một số loại thời hiệu sau đây trong xử phạt vi phạm hành chính:

Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính
Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính ( Điều 6, Luật xử lí vi phạm hành chính 2012):

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định như sau:

a) Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau:

Vi phạm hành chính về kế toán; thủ tục thuế; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản; quản lý rừng, lâm sản; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

Vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế;

b) Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được quy định như sau:

Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;

c) Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến thì thời hiệu được áp dụng theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

d) Trong thời hạn được quy định tại điểm a và điểm b khoản này mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là một năm đối với vi phạm hành chính thông thường. ( Trừ các trường hợp khác do luật định).

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là hai năm đối với vi phạm hành chính về: kế toán, thủ tục thuế, phí, lệ phí, kinh doanh bảo hiểm, quản lí bảo hiểm, quản lí giá, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hải sản, quản lí rừng, lâm sản, điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác, bảo vệ môi trường, năng lượng nguyên tử, quản lí, phát triển nhà và công sở, đất đai, đê điều, báo chí, xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lí lao động ngoài nước;

Thời hiệu được xác định cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế.

Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm  có dấu hiệu vi phạm hành chính thì bị sử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lí, xem xét được tính vào thời hiệu xử lí vi phạm hành chính.

Khi áp dụng quy định về thời hiệu thường xảy ra những tranh luận về việc xác định mốc để tính thời hiệu. Luật xử lí vi phạm hành chính đã phân biệt hai trường hợp sau đây:

Đối với vi phạm hành chính đang thực hiện thì mốc tính thời hiệu là thời điểm phát hiện ra vi phạm hành chính đó

 Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì mốc tính thời hiệu là thời điểm chấm dứt vi phạm hành chính đó.

Trong khoảng thời gian tính thời hiệu nêu trên, nếu cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

Về thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính:

Theo quy định của điều 74 Luật xử lí vi phạm hành chính 2012, thời hiệu thi hành quyết định hành chính là 01 năm kể từ ngày ban hành quyết định xử phạt. Quy định này không áp dụng với tổ chức, cá nhân vi phạm cố tình trốn tránh hoặc trì hoãn việc thi hành quyết định xử phạt. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì  thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.

Về thời hiệu thi hành của quyết định sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, quyết định mới về xử lí vi phạm hành chính, văn bản đính chính quyết định về xử lí vi phạm hành chính.

Căn cứ theo khoản 11, Điều 1 của Nghị định 97/2017/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều nghị định số 81/2013/NĐ-CP thì thời hiệu thi hành quyết định sửa đổi, bổ sung, quyết định mới về xử lí vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ban hành quyết định. Đối với quyết định sửa đổi, bổ sung, quyết định mới về áp dụng biện pháp xử lí vi phạm hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thì thời hiệu thi hành là 06 tháng, kể từ ngày ban hành quyết định.

Thời hiệu xử lí vi phạm hành chính
Thời hiệu xử lí vi phạm hành chính

Bài viết cùng chủ đề:

Tính bất bình đẳng về ý chí trong quan hệ pháp luật hành chính

Chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính

Chuyên mục: Luật hành chính

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Phân tích các loại tổ chức xã hội. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *