Phân tích các hành vi thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế

Các hành vi thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế

các hành vi thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế bao gồm:

Phân tích các hành vi thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế
Phân tích các hành vi thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế

Ký điều ước quốc tế

Ký điều ước quốc tế là một trong các hành vi thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế

Ký là một bước không thể thiếu trong trình tự ký kết điều ước quốc tế. Có 3 hình thức ký điều ước quốc tế, đó là:

– Ký tắt: Là chữ ký của các vị đại diện quốc gia tham gia đàm phán nhằm xác nhận văn bản dự thảo điều ước quốc tế đã được thông qua. Ký tắt chưa làm phát sinh hiệu lực của điều ước.

– Ký Ad Referendum: Là chữ ký của các vị đại diện với điều kiện có sự đồng ý tiếp sau đó của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật quốc gia.

Hình thức ký này được áp dụng trong trường hợp người đại diện thấy rằng không đủ thẩm quyền hoặc không có sự hướng dẫn cụ thể để ký ĐƯ. Về nguyên tắc, hành vi ký ad cũng không làm phát sinh hiệu lực của điều ước. Tuy nhiên, khác với ký tắt, hình thức ký này cũng có thể làm phát sinh hiệu lực cho điều ước nếu được cơ quan có thẩm quyền của các bên tỏ rõ ý tán thành. Trong khi đó, ký tắt chỉ là một bước quá độ để tiến tới ký đầy đủ.  

– Ký đầy đủ (ký chính thức): Là chữ ký của các vị đại diện vào văn bản dự thảo điều ước. Về nguyên tắc, hình thức ký đầy đủ luôn làm phát sinh hiệu lực của điều ước. Trừ trường hợp điều ước này quy định các bên phải tiến hành phê chuẩn, phê duyệt (thường đối với những ĐƯQT quan trọng, có thể gây ra những ảnh hưởng lớn về kinh tế, xã hội đối với các bên tham gia) thì sau hành vi phê chuẩn, phê duyệt này điều ước mới có hiệu lực thi hành.

=> Khác với ĐUQT song phương, ĐUQT đa phương có hiệu lực kể từ nhiều thời điểm khác nhau như theo thỏa thuận của các bên hoặc sau khi ký đầy đủ.

Đại diện ký là ai? – Nguyên thủ QG, Bộ trưởng Bộ NG, người đứng đầu Chính phủ. Người đứng đầu các cơ quan Đại diện NG, ĐSQ, lãnh sự có thể đại diện QG nhưng chỉ trong Giai đoạn đầu: đàm phán, soạn thảo, thông qua. Đây là những người có thẩm quyền đương nhiên theo Khoản 2 Điều 7 CU Viên 1969.

Ngoài ra, các chủ thể khác cũng có thể có thẩm quyền đại diện cho QG tham gia ký kết nhưng phải có thư ủy nhiệm (thư phải có chữ ký của BT BNG).

Phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế

Phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế là một trong các hành vi thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế

Phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế là những hành vi do quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế tiến hành nhằm xác nhận sự đồng ý ràng buộc với một điều ước quốc tế nhất định. Cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đều ghi nhận giá trị pháp lý ngang nhau của hành vi phê chuẩn và phê duyệt điều ước quốc tế. Sự khác nhau căn bản giữa hai hành vi này là ở thẩm quyền tiến hành hai hành vi trên và nội dung của điều ước quốc tế đề cập. Việc áp dụng thủ tục phê chuẩn hay phê duyệt đối với một điều ước quốc tế thường do các bên thỏa thuận và được ghi rõ ngay trong nội dung của văn bản điều ước. Ở Việt Nam, theo Luật ĐƯQT 2016: các cơ quan phê chuẩn là cơ quan quyền lực NN (QH) và CTN – các lọai ĐUQT phải được PC quy định tại Điều 28 ; các cơ quan phê duyệt là cơ quan hành pháp (CP) – Các loại ĐUQT phải được PD quy định tại Điều 37. Như vậy ĐƯQT phải phê chuẩn có tầm quan trọng cao hơn vì liên quan tới các vấn đề chính trị, an ninh quốc gia.

PC hay không PC là quyền của các bên tham gia ĐUQT. Từ chối PC ĐƯQT không phải là hành vi VPPLQT vì các CT phải xuất phát từ mục đích chính trị, lợi ích KT của mình để quyết định.

– Gia nhập điều ước quốc tế: Là hành vi của một chủ thể LQT đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của 1 ĐUQT đa phương.

Là hình thức đặc biệt của quá trình ký kết ĐƯQT. Ở hình thức này, QG muốn trở thành thành viên ĐƯ không tham gia vào giai đoạn hình thành VB ĐƯ mà chỉ tham gia vào giai đoạn xác nhận sự ràng buộc của VB ĐƯ đối với QG mình. 

Việc gia nhập thường được đặt đối với quốc gia khi thời hạn ký kết điều ước đã chấm dứt hoặc điều ước đã có hiệu lức mà quốc gia đó chưa phải là thành viên. Về thủ tục gia nhập điều ước quốc tế, những điều ước quốc tế nào được gia nhập hoặc không được gia nhập phụ thuộc vào quy định cụ thể của điều ước đó hoặc phụ thuộc vào các thành viên của điều ước. Thông thường thủ tục gia nhập được tiến hành theo một số cách như: gửi công hàm xin gia nhập đến QG hay ban thứ ký của TCQT lưu chiểu ĐƯ.

Việc gia nhập ĐUQT chỉ đặt ra đối với ĐUQT đa phương, bởi lẽ đối với ĐƯQT song phương, sự tham gia của bên thứ 3 vào quan hệ sẽ làm thay đổi tính chất mối quan hệ. Một số ĐUQT đa phương phổ cập thường để ngỏ cho QG và các CT khác của LQT tham gia như HC LHQ, CƯ Luật Biển 1982… Đối với ĐUQT đa phương hạn chế số lượng thành viên thì việc gia nhập ĐUQT của các chủ thể phải tuân theo những điều kiện nhất định. VD: HƯ về thành lập CĐKT Châu Âu quy định chỉ những QG Châu Âu mới gia nhập HƯ; Hiến chương ASEAN chỉ các QG Đông Nam Á…

Ở VN, QH, CTN và CP có thẩm quyền quyết định việc xin gia nhập ĐUQT của VN.

Bài viết cùng chủ đề:

Trình tự ký kết điều ước quốc tế

Phân tích địch nghĩa và đặc điểm của điều ước quốc tế

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Các hành vi thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với ĐƯQT. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *