Quy phạm xung đột về hợp đồng theo pháp luật Việt Nam (chi tiết)

Bài viết phân tích chi tiết Quy phạm xung đột về hợp đồng theo pháp luật Việt Nam

Xung đột về hợp đồng theo pháp luật Việt Nam

Trong quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài, việc cho phép các bên tự do lựa chọn pháp luật áp dụng là một quy định rất quan trọng được thừa nhận rộng rãi trên thế giới, trong các điều ước quốc tế (ĐƯQT), cũng như trong các đạo luật quốc gia. Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nên nguyên tắc tự do hợp đồng luôn được đề cao và tôn trọng. Vì vậy khoản 1 Điều 683 BLDS năm 2015 cho phép các bên trong hợp đồng được thỏa thuận chọn luật áp dụng đối với hợp đồng. BLDS 2015 đã có cải cách quan trọng khi ghi nhận: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4,5 và 6 Điều này. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng” (khoản 1, điều 683). Theo đó các khoản 4,5 và 6 quy định như sau:

Khoản 4 Điều 683 quy định hợp đồng có đối tượng là bất động sản thì hệ thuộc luật áp dụng là hệ thuộc luật của nước nơi có bất động sản. Các hợp đồng về chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, hợp đồng thuê bất động sản… phụ thuộc vào việc bất động sản đó ở đâu thì áp dụng pháp luật nơi đó. Quy định như vậy đảm bảo sự phù hợp với thống lệ quốc tế, phù hợp với chính sách pháp luật chung của quốc gia, bảo vệ lợi ích của nhà nước và của các bên trong quan hệ mà còn đảm bảo việc thực thi các phán quyết của các cơ quan có thẩm quyền được thuận lợi hơn.

Khoản 5 Điều 683 quy định luật do các bên lựa chọn mà ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam thì các quy định của pháp luật đã được các bên lựa chọn sẽ không được áp dụng và thay thế bằng pháp luật Việt Nam. Mục đích của quy định này là để bảo vệ quyền lợi của người lao động và người tiêu dùng không bị ép buộc.

Khoản 6 Điều 683 quy định việc thay đổi hệ thuộc luật áp dụng sẽ do các bên thỏa thuận nhưng không được ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thứ ba và phải được họ đồng ý.

Nếu các bên không thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng hoặc không thỏa thuận được thì hệ thống pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng được áp dụng. Quy định này phù hợp với quy định của điều ước quốc tế, cụ thể trong các điều ước quốc tế hệ thuộc luật nơi có mối liên hệ gắn bó nhất cũng được áp dụng phổ biến. Bên cạnh đó, nếu áp dụng hệ thuộc luật nơi thực hiện hợp đồng sẽ có những trường hợp không thể xác định được hợp đồng được thực hiện ở đâu, nhất là đối với các hợp đồng song vụ hoặc hợp đồng liên quan đến các tài sản vô hình.

Quy phạm xung đột về hợp đồng theo pháp luật Việt Nam (chi tiết)
Quy phạm xung đột về hợp đồng theo pháp luật Việt Nam (chi tiết)

Quy định về áp dụng pháp luật nước nơi có mối liên hệ gắn bó nhất trong xung đột về hợp đồng

Để cụ thể hóa các trường hợp liên quan và để thống nhất cách thức áp dụng đối với pháp luật của nước nơi có mối liên hệ gắn bó nhất, khoản 2 Điều 683 quy định các hệ thống pháp luật của nước được coi là gắn bó nhất như sau:

Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thì pháp luật được coi là gắn bó nhất là pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân bán hàng hoặc nơi thành lập của pháp nhân bán hàng.

Đối với hợp đồng dịch vụ thì pháp luật được coi là gắn bó nhất là pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân cung cấp dịch vụ hoặc nơi thành lập của pháp nhân cung cấp dịch vụ.

Đối với hợp đồng chuyển giao quyền giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ pháp luật được coi là gắn bó nhất là pháp luật của nước nơi cư

trí của cá nhân nhận quyền hoặc nơi thành lập của pháp nhân nhận quyền. Mặc dù trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không có xug đột pháp luật nhưng các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ có thể xảy ra xung đột pháp luật. Theo quy định này, pháp luật được áp dụng là pháp luật nơi cư trí của cá nhân nhận quyền hoặc nơi thành lập của pháp nhân nhận quyền. Hiện nay Việt Nam là nước nhận chuyển giao các đối tượng sở hữu trí tuệ nhiều hơn là nước chuyển giao, nên quy định như vậy là cơ sở để mở rộng phạm vi áp pháp luật Việt Nam một cách chính đáng.

– Đối với hợp đồng lao động, pháp luật được coi là gắn bó nhất là pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc. Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì áp dụng pháp luật nước nơi cư trú của cá nhân người sử dụng lao động hoặc nước nơi pháp nhân thành lập.

Đối với hợp đồng tiêu dùng pháp luật được coi là gắn bó nhất là pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú. Quy định như vậy để bảo vệ quyền lợi cử người tiêu dùng, tạo thuận lợi cho cơ quan giải quyết tranh chấp trong việc thực hiện hành vi tố tụng nếu có và tăng trách nhiêm, ý thức tôn trọng người tiêu dùng của bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

Tuy nhiên, thực tế có thể sẽ có những trường hợp mà pháp luật không dự đoán được nên khoản 3 Điều 683 cho phép nếu chứng minh được pháp luật của nước khác có mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng thì áp dụng pháp luật nước đó.

Tại khoản 7 Điều 683, quy định về hình thức của hợp đồng phải phù hợp với pháp luật đã được áp dụng để điều chỉnh chung cho hợp đồng. Nếu các bên không lựa chọn luật áp dụng thì hệ thuộc luật có mối quan hệ gắn bó nhất là hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ cả về nội dung lẫn hình thức hợp đồng.

Bài viết cùng chủ đề:

Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật

Hệ thuộc luật là gì? Hệ thuộc luật do các bên lựa chọn là gì?

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Quy phạm xung đột về hợp đồng theo pháp luật Việt Nam (chi tiết). Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *