Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật

Bài viết Phân tích chi tiết nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế

1. Nguyên nhân khách quan dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật

Do pháp luật của các nước có sự khác nhau

Pháp luật do nhà nước xây dựng nên, phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… của nước mình. Vì vậy, có rất nhiều yếu tố làm cho pháp luật của các nước trên thế giới không giống nhau. Đó có thể là:

Do nguyên nhân chính trị, kinh tế, xã hội

Các quốc gia đều tồn tại dựa trên một nền tảng kinh tế nhất định với một chế độ sở hữu tương ứng. Mà chế độ sở hữu là một bộ phận của cơ sở hạ tầng, có mối quan hệ biện chứng với kiến trúc thượng tầng trong đó pháp luật là một cấu thành quan trọng. Vì vậy, dựa trên một chế độ sở hữu nhất định thì pháp luật cũng được hình thành để phản ánh một cách phù hợp và tương

xứng. Trên thế giới có những quốc gia được tạo dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nhưng ngược lại cũng có những quốc gia được tạo dựng dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Từ các chế độ sở hữu đó mà pháp luật được xây dựng ở các quốc gia này cũng có sự khác biệt căn bản

Nhưng không phải các nước có cùng chế độ sở hữu, có cùng chế độ chính trị thì pháp luật sẽ giống nhau mà pháp luật các nước này vẫn có những quy định khác nhau, bởi cách giải thích pháp luật khác nhau, áp dụng pháp luật khác nhau và hơn nữa là trình độ phát triển ở các nước là không đồng đều.

Sự khác nhau giữa hệ thống pháp luật các nước còn có thể từ nguyên nhân khác như tập quán, truyền thống, tín ngưỡng, tôn giáo…

Nhưng nếu chỉ sự khác nhau của cá quốc gia thì cũng sẽ không có xung đột pháp luật của các quốc gia thì cũng sẽ không có xung đột pháp luật vì khi các quan hệ nảy sinh ở đâu sẽ do luật pháp của nội bộ quốc gia đó đieieuf chỉnh, mà không có hiện tượng các hệ thống pháp luât của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng. Vì vậy, để hiện tượng xung đột pháp luật phát sinh nhất thiết phải có những lý do khác nữa hay các nguyên nhân khác nữa, được trình bày ở các mục tiếp theo dưới đây.

Do đặc điểm về quan hệ xã hội thuộc tư pháp quốc tế điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của TPQT là các quan hệ mang tính chất dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Quan hệ do TPQT điều chỉnh luôn có yếu tố nước ngoài tham gia và luôn liên quan đến ít nhất là hai hệ thống pháp luật. Cũng chính vì tính chất quốc tế nên mới xuất hiện xung đột pháp luật. Trong sự phát triển không ngừng của đời sống xã hội, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xuất hiện càng nhiều sự lưu chuyển các dòng lao động, dòng vốn giữa các quốc gia, các cuộc hôn nhân quốc tế, sở hữu tài sản ở nước ngoài hay việc ký kết các hợp đồng với các đối tác nước ngoài… Các quan hệ này luôn tiềm ẩn vấn đề xung đột pháp luật vì luôn liên quan đến hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau.

Xung đột pháp luật phát sinh từ quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, không phải quan hệ nào trong lĩnh vực dân sự cũng phát sinh xung đột pháp luật. Ví dụ như quan hệ về quyền sở hữu trí tuệ là quan hệ pháp luật mang tính chất lãnh thổ triệt để. Quyền sở hữu trí tuệ xuất hiện ở nước nào thì chỉ có hiệu lực pháp luật tại nước đó, không thể áp dụng pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của nước này tại nước khác. Ngoài ra, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, chỉ đặt ra vấn đề xung đột về thẩm quyền.

Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật
Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật

2. Nguyên nhân chủ quan dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật

Nguyên nhân chủ quan của xung đột pháp luật chính là sự thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài của nhà nước.

Thực tế có những quan hệ pháp luật nảy sinh mặc dù hệ thống pháp luật của các nước là khác nhau, cũng có xuất hiện của yếu tố nước ngoài tức là thoả mãn hai điều kiện của nguyên nhân khác quan nêu trên nhưng vẫn không có xung đột pháp luật. Ví dụ đó là các quan hệ trong lĩnh vực công, điển hình là các quan hệ hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài.

Làm một bài toán phản chứng, giả sử các quan hệ này nảy sinh và cho rằng có xung đột pháp luật, tức là có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài. Điều đó cũng có nghĩa là sẽ phải có sự chọn lựa trong số các hệ thống pháp luật có thể được áp dụng đó, lấy một hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan hệ đang xem xét. Kết quả của sự lựa chọn này tất yếu không phải mọi trường hợp sẽ là luật quốc gia của Việt Nam, mà sẽ có trường hợp là luật hình sự, hành chính của nước ngoài. Khi đó, luật hình sự, hành chính của nước ngoài sẽ được áp dụng để bảo vệ các quan hệ đó, các quan hệ đặc biệt được xác định là sự ổn định của an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, mà khi đặt ra pháp luật để bảo vệ các quan hệ này, các quốc gia, không chỉ Việt Nam, luôn xác định là để bảo vệ những giá trị cốt lõi, nền tảng của chính mình. Nói một cách khác, nếu thừa nhận có xung đột pháp luật trong lĩnh vực công thì đồng nghĩa với việc chấp nhận có thể áp dụng pháp luật nước ngoài, và điều đó là một điều hết sức vô lý và

không thực tiễn không chỉ với Việt Nam mà với tất cả các nước. Vì vậy, như đã trình bày, các quốc gia đều từ chối áp dụng pháp luật nước ngoài hay không đặt ra việc chọn luật để rồi có thể có nguy cơ áp dụng pháp luật nước ngoài trong lĩnh vực này nên giả sử trên cho rằng các quan hệ hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài phát sinh cũng phát sinh xung đột pháp luật là không có cơ sở. Các quan hệ này được bảo vệ một cách nghiêm ngặt và tuyệt đối trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, một khi các quan hệ đó bị xâm phạm tức là các giá trị căn bản của cuộc sống, xã hội bị tác động tới, các lợi ích công bị xâm phạm thì bất kể người vi phạm là người nước nào, đang cư trú ở đâu đều sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật quốc gia nơi quan hệ (được quy định trong luật công) bị xâm phạm.

Như vậy, có thể kết luận là các quan hệ hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài dù có đủ nguyên nhân khách quan nhưng vẫn không có xung đột pháp luật. Việc không có xung đột pháp luật trong các lĩnh vực này xuất phát từ việc thiếu nguyên nhân chủ quan hay các quốc gia tự nhận thấy không thể chấp nhận hiện tượng xung đột pháp luật, tức là các quốc gia từ chối việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong các lĩnh vực đó.

Trong khi đó, các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài phát sinh sẽ phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật. Do bản chất của các quan hệ này là các quan hệ dân sự, các quan hệ đời thường diễn ra hàng ngày giữa người dân với nhau, họ là các chủ thể ngang quyền và bình đẳng với nhau. Chính yếu tố bình đẳng trong quan hệ này là cơ sở để có thể đặt ra vấn đề bình đẳng trong luật pháp giữa các nước và khi quan hệ liên quan đến nhiều quốc gia thì nhiều hệ thống pháp luật tương ứng sẽ có thể được cân nhắc áp dụng để điều chỉnh quan hệ cụ thể đang xem xét, tức là có xung đột pháp luật. Nói cách khác, do đặc trưng của quan hệ dân sự không quá “nghiêm trọng” mà các quốc gia đều thừa nhận khả năng có thể áp dụng pháp luật nước ngoài với điều kiện nhất định.

Tóm lại, các quan hệ tư pháp quốc tế nảy sinh đa phần làm nảy sinh các điều kiện khách quan để hiện tượng xung đột pháp luật xuất hiện, thêm vào

đó với bản chất “bình dân” của mình thì nhà nước (yếu tố chủ quan) cũng thừa nhận, cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài. Đấy là điều kiện cần và đủ để hiện tượng xung đột pháp luật tồn tại trong các quan hệ tư pháp quốc tế.

Như vậy, lý do khách quan là tiền đề quan trọng để xuất hiện hiện tượng xung đột pháp luật, lý do chủ quan là lý do quyết định có tồn tại xung đột pháp luật hay không. Nếu lý do khách quan được đáp ứng, quan hệ lại rơi vào nhóm được nhà nước thừa nhận có thể áp dụng pháp luật nước ngoài thì xung đột pháp luật nảy sinh như các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Nếu lý do khách quan thoả mãn nhưng lại không có sự đồng ý cho áp dụng pháp luật nước ngoài trong loại quan hệ đó thì hiện tượng xung đột pháp luật cũng không thể nảy sinh như các quan hệ trong lĩnh vực luật công có yếu tố nước ngoài.

Bài viết cùng chủ đề:

Hệ thuộc luật là gì? Hệ thuộc luật do các bên lựa chọn là gì ?

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *