Nguồn của luật quốc tế là gì ? Cấu trúc nguồn của luật quốc tế

Nguồn của luật quốc tế là gì ?

Nguồn của luật quốc tế là những hình thức biểu hiện sự tồn tại hay chứa đựng các NT, QPPLQT do các QG và chủ thể khác của LQT thỏa thuận xây dựng nên.

nguồn của luật quốc tế
nguồn của luật quốc tế

Cấu trúc Nguồn của luật quốc tế 

Bao gồm:

Nguồn cơ bản

 Là hình thức trực tiếp chứa đựng các NT và QPPLQT.

Gồm: Điều ước QT và TQQT.

Điều ước QT là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các chủ thể của LQT với nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa các chủ thể đó, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có mối liên hệ mật thiết với nhau.

TQQT: Là hình thức chứa đựng các QT xử sự, hình thành trong thực tiễn đời sống quan hệ PLQT, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần và được hầu hết các QG thừa nhận là luật.

Nguồn bổ trợ

 Là hình thức không chứa đựng trực tiếp các QPPLQT nhưng lại là hình thức biểu hiện sự tồn tại của các QPPLQT. Gồm:

+ NTPL chung: Đây là các nguyên tắc pháp lý được cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thừa nhận và được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia. VD: nguyên tắc gây thiệt hại thì phải bồi thường, nguyên tắc không ai là quan tòa chính trong vụ việc của mình… Trong thực tiễn, nguyên tắc pháp luật chung chỉ áp dụng sau điều ước quốc tế và tập quán quốc tế với ý nghĩa để giải thích hay làm sáng tỏ nội dung của quy phạm luật quốc tế.

+ Các học thuyết của các học giả danh tiếng: là những tư tưởng, quan điểm thể hiện trong các công trình nghiên cứu, tác phẩm và kết luận của các tác giả về những vấn đề lý luận cơ bản của luật quốc tế. Do vậy, trong các học thuyết này đôi khi lại đưa ra các kiến giải góp phần làm sáng tỏ nội dung của các quy phạm pháp luật quốc tế và giúp các chủ thể LQT áp dụng chúng dễ dàng hơn.

Các học thuyết của các học giả danh tiếng về luật quốc tế không phải là nguồn của luật quốc tế vì: chúng không phải văn bản pháp lý ràng buộc các quốc gia, không thể hiện ý chí của các quốc gia được nâng lên thành luật; bản thân các học thuyết này không chứa đựng các quy phạm pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các quốc gia; chúng không được áp dụng một cách thường xuyên trong quan hệ quốc tế.

VD: Các luận điểm trong tác phẩm “Biển quốc tế” của tác giả Hugues Grotius có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng Luật biển quốc tế.

+ Hành vi pháp lý đơn phương của QG. Đây là những hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể luật quốc tế. Hành vi đơn phương của các quốc gia có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức: tuyên bố, công hàm, phát biểu của các vị lãnh đạo Nhà nước, tuyên bố chung…bất cứ hành vi nào cũng làm phát sinh nghĩa vụ đối với quốc gia đưa ra hành vi đó. Về bản chất, hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia không được coi là nguồn của luật quốc tế, vì nó không đảm bảo yếu tố “thỏa thuận” trong đó.

Tuy nhiên, nó sẽ trở thành nguồn bổ trợ của luật quốc tế khi hành vi đơn phương này “có khả năng” tạo ra quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế.

VD: 1 QG tuyên bố QG đó là QG trung lập (Thụy Sĩ…); Tuyên bố của chính phủ Ai Cập năm 1957 về việc cho phép tàu thuyền qua lại tự do trên kênh đào Xuy-ê; Phản đối hành vi công nhận nền độc lập của Nam Ossetia và Apkhazia từ phía Nga, đại diện của Mỹ (cụ thể là tổng thống và ngoại trưởng Mỹ) đã phát biểu công khai yêu cầu Nga phải xem xét lại hành vi công nhận của mình và cho rằng việc Nga công nhận nền độc lập của 2 khu vực này là đi ngược lại với các qui định của pháp luật quốc tế, đồng thời Mỹ cũng đưa ra tuyến bố rằng sẽ sử dụng quyền phủ quyết của mình để ngăn chặn mọi xử sự không phù hợp của Nga nhằm công nhận hoặc thiết lập quan hệ với 2 khu vực này; Nhật bản sau chiến tranh thế giới thứ II đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của mình đối với quần đảo Fonmôsa.

+ NQ của TCQT liên CP. Là văn bản do các cơ quan có thẩm quyền của tổ chức quốc tế thông qua, tiêu biểu là nghị quyết của Liên hợp quốc – tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu lớn nhất hiện nay.

+ Phán quyết của cơ quan tài phán QT. Bản thân các phán quyết là kết quả của quá trình áp dụng pháp luật của tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế, và các quyết định tài phán này chỉ có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp. Sở dĩ các phán quyết này không thể trở thành nguồn của luật quốc tế vì các nguồn cơ bản phải được hình thành trên cơ sở của sự thỏa thuận giữa các chủ thể luật quốc tế.

Vai trò của các phán quyết: Từ một quy tắc, quy phạm chưa được giải thích, còn chung chung, mơ hồ, khó hiểu, sau khi được các thẩm phán có trình độ và uy tín cao giải thích, các quy tắc, quy phạm LQT sẽ trở lên rõ ràng, sáng tỏ hơn. Đây là đóng góp quan trọng của các phán quyết của tòa án quốc tế đối với quá trình giải thích luật quốc tế và tạo tiền đề cho sự hình thành các quy phạm mới (VD: Trong vụ tranh chấp giữa Nauy và Anh. Phán quyết của tòa trong trường hợp này đã tạo tiền đề cho sự hình thành quy phạm về việc xác định đường cơ sở thẳng đối với các quốc gia có đường bờ biển khúc khuỷu trong quan hệ quốc tế liên quan đến biển).

Câu hỏi liên quan Nguồn của luật quốc tế

 Nghị quyết của tổ chức liên chính phủ có tính chất là điều ước quốc tế và được gọi là điều ước quốc tế hay không? Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ không được gọi là điều ước quốc tế vì nghị quyết được đưa ra nhân danh một chủ thể nhất định, chứ không phải là sự thỏa thuận của các chủ thể. Do đó, mặc dù nó có giá trị bắt buộc với các quốc gia thành viên, nhưng nó không phải điều ước quốc tế.

nguồn của luật quốc tế
nguồn của luật quốc tế

Bài viết cùng chủ đề:

Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia

Phân tích các loại quy phạm pháp luật quốc tế, cho ví dụ

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Nguồn của luật quốc tế là gì ? Cấu trúc nguồn của luật quốc tế. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *