Lỗi là gì? Phân tích ý nghĩa pháp lý của Yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

1. Yếu tố Lỗi là gì 

 Lỗi là quan hệ giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định yêu cầu của xã hội được thể hiện thông qua các quy định của pháp luật. Khi một người có đủ nhận thức và điều khiển để lựa chọn cách xử sự sao cho xử sự đó phù hợp với pháp luật, tránh thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó có lỗi.

Như vậy, lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện. Bao gồm hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý như sau:

+ Lỗi cố ý: Một người bị coi là lỗi cố ý nếu họ nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện hành vi đó.

Nếu người này mong muốn thiệt hại xảy ra từ việc thực hiện hành vi thì lỗi của họ là lỗi cố ý trực tiếp

Nếu họ không mong muốn thiệt hại xảy ra nhưng vẫn để mặc cho thiệt hại xảy ra thì là lỗi cố ý gián tiếp

+ Lỗi vô ý: Vô ý gay thiệt hại là tường hợp 1 người dù không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

2. Đặc điểm của yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

+ Lỗi không là căn cứ bắt buộc trong tất cả các trường hợp.

+ Lỗi trong nhiều trường hợp là lỗi suy đoán: trong các trường hợp như bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra, bồi thường do gia scs gây ra… lỗi do người gây thiệt hại thể hiên ở việc quản lý con người hay quản lý vật nuôi dẫn đến thiệt hại nghĩa là các chủ thể ấy không có lỗi trực tiếp  đối với thiệt hại.

 +Có nhiều dạng và mức độ lỗi nhưng điều này không ảnh hưởng đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc phân biệt lỗi cố ý, vô ý chỉ có ý nghĩa đối với việc xem xét để giảm mức bồi thường

3. Ý nghĩa pháp lý của lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

3.1. Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Lỗi là yếu tố cần phải xem xét khi xác định trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm dân sự nói riêng. Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi người gây ra thiệt hại có lỗi, bất kể là lỗi vô ý hay cố ý.

Tuy nhiên trong một số trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi theo quy định tại Điều 601, Điều 604, Điều 605, BLDS 2015. Những trường hợp này được coi là trách nhiệm khách quan của chủ sở hữu mà pháp luật quy định dựa trên nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu.

Theo nguyên tắc chung, mọi trách nhiệm pháp lý đều phải có yếu tố lỗi. Nếu không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm triết lý trừ trường hợp luật quy định cụ thể như trách nhiệm dân sự do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Vấn đề mới của BLDS 2015 là “lỗi suy đoán”, có nghĩa là gây thiệt hại là có lỗi mà không cần phải chứng minh. Người gây thiệt hại chứng minh rằng do bất kháng, do lỗi cố ý của người bị thiệt hại có nghĩa là họ không có lỗi cho nên không phải bồi thường. Tuy nhiên, trong trách nhiệm dân sự cụ thì yếu tố lỗi có thể được xác định cụ thể nhưng cũng có thể suy đoán là lỗi cố ý hoặc vô ý ( Điều 364 BLDS).

Ví dụ, A và C cùng đi nhậu tại một cửa hàng. A say rượu và đập phá, gây thiệt hại cho cửa hàng của B. Trong trường hợp này , nếu A say rượu do nguyên nhân là tự uống say và gây ra thiệt hại thì A sẽ phải bồi thường thiệt hại cho cửa hàng B ( theo Khoản 1 Điều 596) do thiệt hại do hành vi có lỗi của A gây ra.

Tuy nhiên trong trường hợp này, nếu A là một người bị chứng say rượu bệnh lý và bị C ( Biết A bị chứng bệnh này nhưng vẫn cố ý khiến A say) ép A uống rượu say thì trong trường hợp này, căn cứ theo Khoản 2 Điều 596 BLDS 2015, thì C là người bồi thường thiệt hại cho B

3.2. Lỗi có ý nghĩa trong việc xét giảm mức bồi thường thiệt hại

Mức bồi thường thiệt hại chỉ được giảm khi đáp ứng được đồng thời hai điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 585.  “Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.”

Cụ thể là: Do lỗi vô ý hoặc không có lỗi mà gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người gây thiệt hại có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họ không có khả năng bồi thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó” .

Giảm mức bồi thường thiệt hại hay bồi thường một phần thiệt hại được hiểu là mức bồi thường của người chịu trách nhiệm BTTH phải thực hiện nhỏ hơn so với thiệt hại đã xảy ra.

– Nguyên tắc này chỉ được áp dụng khi việc gây thiệt hại có đủ hai yếu tố:

+ Về mặt chủ quan: Người có hành vi trái pháp luật, không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết trước hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc đã thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng do cẩu thả hoặc quá tự tin cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được nên đã thực hiện hành vi đó và gây ra thiệt hại ngoài mong muốn của mình ( lỗi vô ý)

Trường hợp bồi thường thiệt hại mà chủ thể không có lỗi chủ yếu thuộc về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra “Đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó”, xét ở các điều :

Điều 601, Điều 602, Điều 603, Điều 604, Điều 605, Điều 606, Điều 607, Điều 609.

Ví dụ như bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Căn cứ theo Điều 601 thì khi thiệt hại xảy ra thì chủ sở hữu hoặc chủ chiếm hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi họ không có lỗi (trừ trường hợp  thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết hay hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại).

Hay là theo Điều 603 về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra thì trong trường hợp súc vật gây ra thiệt hại không có lỗi của người bị thiệt hại và không người thứ ba nào có lỗi trong việc để gia súc gây ra thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật phải bồi thường.

+ Về mặt khách quan: xét về hoàn cảnh hiện tại cũng như lâu dài. Người gây thiệt hại không có khả năng kinh tế để bồi thường toàn bộ thiệt hại vì thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế của họ.

Yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

4. Ví dụ Yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Ví dụ : Về trường hợp lỗi vô ý: A trong khi chặt củi cùng hàng xóm trong rừng, do sơ ý, tay trơn làm tuột tay lưỡi dao văng ra trúng B vào cổ khiến B chết vì mất máu quá nhiều và C bị thương nhẹ ở tay. Trong đó B là lao động chính, nuôi mẹ già và 3 con nhỏ.

Qua xem xét thực tế hoàn cảnh của A khó khăn, gia đình không có tài sản gì đáng giá, ngoài ra A phải nuôi 1 mẹ già, 1 vợ và 4 đứa con còn nhỏ. Vậy trong trường hợp này khi giải quyết, ngoài việc chịu TNHS về lỗi vô ý giết người và gây thương tích thì xét bồi thường thiệt hại Tòa án phải coi sự thiệt hại mà A gây ra cho B và C là quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài và cần thiết giảm mức bồi thường cho A là thòa đáng còn giảm mức bao nhiêu còn tùy thuộc vào trường hợp, hoàn cảnh cụ thể.

Bài viết cùng chủ đề:

Phân biệt hợp đồng gia công và hợp đồng mua bán tài sản hình thành trong tương lai

Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *