Khái niệm buôn bán người theo quy định quốc tế

Khái niệm buôn bán người theo Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị và trấn áp tội buôn bán người

Theo Điều 3, Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị và trấn áp tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước TOC được thông qua theo Nghị Quyết số 55/25 ngày 15 tháng 11 năm 2000 của Đại hội đồng Liên hợp quốc), khái niệm Buôn bán người được hiểu như sau:

Buôn bán người” có nghĩa là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe doạ sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người đang kiểm soát những người khác.

Hành vi bóc lột sẽ bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể.”  

Khái niệm buôn bán người theo quy định quốc tế
Khái niệm buôn bán người theo quy định quốc tế

Phân tích các yếu tố trong khái niệm buôn bán người

Từ Khái niệm buôn bán người được quy định trong Nghị định thư trên, có thể phân tích, buôn bán người bao gồm các yếu tố sau đây:

– Về hành vi: Thực hiện một trong các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp (che giấu), tiếp nhận người.

– Về phương thức, thủ đoạn: Ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương của nạn nhân; cho hay nhận tiền hoặc lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác.

– Về mục đích: Bóc lột nạn nhân, bao gồm các hình thức bóc lột mại dâm hoặc hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc những hình thức tương tự như nô lệ, không được trả công hoặc trả rất rẻ mạt, môi trường lao động không an toàn (nặng nhọc, độc hại, kéo dài thời gian), phân biệt đối xử tàn tệ, lao động cưỡng bức hoặc có giao kèo nhưng dùng thủ đoạn vắt kiệt sức lao động, lấy đi những bộ phận cơ thể để phục vụ lợi ích riêng hay để thu lợi nhuận.

– Về phạm vi: Buôn bán người thường có yếu tố di chuyển nhưng không nhất thiết phải vượt ra khỏi biên giới quốc gia, có thể xảy ra trong phạm vi một quốc gia, điều đó có nghĩa là đã rời khỏi gia đình, cộng đồng không phải nơi mà người đó sinh sống (từ địa bàn gốc, qua nơi trung chuyển và nơi đến).

Bài viết cùng chủ đề:

Phân biệt buôn bán người với đưa người di cư bất hợp pháp

Phân biệt tội diệt chủng và tội phạm chiến tranh

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Khái niệm buôn bán người theo quy định quốc tế. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *