Hành vi tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Hành vi tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Hành vi: Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác.

 Thủ đoạn: lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình. Trên cơ sở chức vụ quyền hạn của mình và vượt qua ngoài phạm vi đó bằng một số thủ đoạn khác nhau như :

Lạm dụng chức vụ quyền hạn uy hiếp tinh thần ng khác : ng phạm ội sử dụng chức vu quyền hạn làm phương tiện để cưỡng bức ng khác chiếm đoạt tài sản của họ nên ng bị hại lo sợ rằng nếu mình ko đưa ts sẽ bị ng phạm tội gây thiệt hại cho m

Lạm dụng chức vụ quyền hạn lừa đối người khác : thể hiện nội dung ko đúng vs sự thật vs ng khác vì tin vào ng có chức vụ quyền hạn mà họ ko nhận thức đc đó là lừa dối để cho ng phạm tội cđ tài sản.

Lạm dụng chức vụ quyền hạn ko gian dối nhưng ng bị hại vẫn tin mà giao tài sản cho ng có chức vụ quyền hạn lạm dụng sự tín nghiệm để cđoat tài sản.

Lạm dụng chức vụ, quyền hạn là hành vi vượt quá quyền hạn của mình, làm trái công vụ để chiếm đoạt tài sản của người khác.

Cũng như hành vi chiếm đoạt trong các tội có tính chất chiếm đoạt khác, hành vi chiếm đoạt trong tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi chuyển dịch trái phép tài sản thuộc sở hữu hoặc quyền quản lý hợp pháp thành của mình hoặc của người khác mà mình quan tâm.

Hành vi chiếm đoạt tài sản vừa là hệ quả vừa là mục đích của hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn của người phạm tội. Mối quan hệ giữa hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn với hành vi chiếm đoạt là mối quan hệ nhân quả, trong đó hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn là nguyên nhân còn hành vi chiếm đoạt là hậu quả.

Hành vi tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Hành vi tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Lưu ý về Hành vi tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản:

Lợi dụng và lạm dụng là hai thuật ngữ khác nhau,. Tuy nhiên, ranh giới giữa hành vi lợi dụng với hành vi lạm dụng không phải bao giờ cũng phân biệt được một cách rạch ròi. Ví dụ: Một cán bộ cảnh sát làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự đường phố đã thu toàn bộ số vé xổ số của người bán vé số trên vỉa hè và chiếm đoạt luôn số hàng đó.

Trong trường hợp này, khó có thể xác định người cảnh sát lạm dụng hay lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Nếu cho rằng người cảnh sát lạm dụng chức vụ, quyền hạn thì cũng không sai, bởi lẽ:

Theo quy định của pháp luật thì Cán bộ cảnh sát làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự đường phố không có chức năng thu giữ tài sản, việc thu giữ tài sản là vượt quá quyền hạn mà người cảnh sát có.

Nhưng nếu cho rằng người cảnh sát này lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì cũng không có gì sai, vì nếu không là cảnh sát thì không được làm nhiệm vụ, mà không được làm nhiệm vụ thì làm sao thu giữ được vé số của người bán vé số trên vỉa hè. ( đoạn này tớ đọc ko hiểu cho lắm cái ví dụ phân biệt nhưng cứ đưa ra các bạn xem xét).

Lạm dụng chức vụ, quyền hạn là hành vi vượt quá giới hạn cho phép. Giới hạn cho phép chính là quyền hạn mà người có chức vụ có; quyền hạn này do pháp luật quy định, thường là do luật tổ chức cơ quan, tổ chức quy định; trong một số trường hợp quyền hạn này do một ngành luật đặc trưng cho nghề nghiệp quy định như:

Quyền hạn của những người tiến hành tố tụng trong các vụ án hình sự là do Bộ luật tố tụng hình sự quy định; quyền hạn của cán bộ Hải quan do Pháp lệnh về hải quan quy định.

Ví dụ: Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì Thẩm phán Toà án các cấp không có quyền ra lệnh bắt bị cáo tạm giam, cũng như không có quyền trả tự do cho bị cáo đang tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà chỉ có Chánh án, Phó chánh án mới có quyền này; Chỉ có Thẩm phán từ cấp tỉnh trở lên chủ toạ phiên toà mới có quyền bắt người để tạm giam.

Vì vậy, khi xác định một người có lạm dụng chức vụ, quyền hạn hay không, trước hết phải căn cứ vào chức vụ họ đang giữ và theo pháp luật thì họ có những quyền gì ? Nếu trong khi thi hành công vụ họ đã thực hiện vượt quá giới hạn cho phép là lạm dụng chức vụ, quyền hạn.

Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt giữa hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong nhiều tội phạm có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn và lạm dụng chức vụ, quyền hạn.

Mặc dù điều văn của điều luật quy định: “chiếm đoạt tài sản của người khác” nhưng không vì thế mà cho rằng đó chỉ là tài sản của công dân, mà phải hiểu người khác bao gồm: Nhà nước, tổ chức và mọi công dân. Như vậy, người phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác không chỉ bao gồm tài sản của công dân mà bao gồm cả tài sản của Nhà nước, của tổ chức.

Tuy nhiên, về lý luận, cũng như thực tiễn xét xử có trường hợp người phạm tội không lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do chính mình quản lý thì hành vi của người phạm tội cấu thành tội tham ô tài sản hay tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác ? 

Nếu xác định hành vi của người phạm tội là hành vi tham ô tài sản thì không thoả mãn dấu hiệu “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”, còn nếu xác định hành vi của người phạm tội là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì lại không thoả mãn dấu hiệu “chiếm đoạt tài sản của người khác”.

Có ý kiến cho rằng, không thể có trường hợp người phạm tội tham ô tài sản có hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản do chính mình có trách nhiệm quản lý;

nếu có thì hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn của họ cũng không có ý nghĩa vì trên thực tế họ chỉ lợi dụng chức vụ, quyền hạn là đủ, còn nếu trong khi lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà họ vượt quá quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản do chính mình có trách nhiệm quản lý thì cũng không vì thế mà cho rằng, họ không lợi dụng chức vụ, quyền hạn; chẳng qua là do họ lợi dụng một cách thái quá mà thôi.

Hơn nữa dấu hiệu chiếm đoạt tài sản là chiếm đoạt tài sản do chính người phạm tội có trách nhiệm quản lý nên họ vẫn phạm tội tham ô tài sản.

Cũng như hậu quả của các tội phạm về chức vụ khác, hậu quả của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác là những thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất cho xã hội.

Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, thiệt hại trước hết là thiệt hại về tài sản, ngoài ra còn có những thiệt hại khác phi vật chất.

Hậu quả của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, xét về phương diện các yếu tố cấu thành tội phạm thì không phải là dấu hiệu bắt buộc, tức là, dù hậu quả chưa xảy ra nhưng hành vi vẫn cấu thành tội phạm.

Trong Bộ luật hình sự, không chỉ đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, mà đối với nhiều tội phạm khác, nhà làm luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm ranh giới phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm, nên có quan điểm cho rằng, thiệt hại về tài sản của các tội phạm này là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm nếu chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được nhưng giá trị tài sản dưới mức quy định của điều luật thì chưa cấu thành tội phạm.

Sự nhầm lẫn này xuất phát từ sự nhầm lẫn về lý luận, giữa hậu quả của tội phạm với thiệt hại thực tế đã xảy ra, bời vì hậu quả của tội phạm không chỉ là những thiệt hại do tội phạm đã gây ra mà còn đe doạ gây ra cho xã hội, tức là thiệt hại vật chất chưa xảy ra nhưng cũng đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

Bài viết cùng chủ đề Hành vi tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản:

Chủ thể Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (điều 355)

Phân tích chi tiết cấu thành tội nhận hối lộ (Điều 354 BLHS)

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Hành vi tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *