Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Bài viết phân tích và bình luận Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Theo BLTTDS 2015, một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có thể thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án Việt Nam theo 2 cách: thuộc thẩm quyền chung của tòa án Việt Nam hoặc thuộc thẩm quyền riêng biệt của tòa án Việt Nam.

Thẩm quyền chung

Một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của tòa án Việt Nam nghĩa là pháp luật Việt Nam quy định tòa án Việt Nam có thẩm quyền xét xử, song nếu tòa án nước ngoài xét xử vụ việc đó thì phán quyết tương ứng của tòa án nước ngoài có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định thuộc thẩm quyền chung của Tòa án của một quốc gia khi vụ việc đó có bất kỳ một “yếu tố liên quan” hay “mối liên hệ mật thiết” đến quốc gia đó.

Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 469 BLTTDS 2015. Theo đó, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:

Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam.

BLTTDS đã thay thế cụm từ “công dân nước ngoài, người không quốc tịch” bằng cụm từ “cá nhân”. Xét về phạm vi nghĩa thì cá nhân bao trùm cả công dân. Trong cá nhân gồm có công dân, người nước ngoài và người không quốc tịch. Bộ luật dùng cụm từ có tính khái quát hơn để người đọc dễ hình dung, dễ hiểu hơn.

Tuy nhiên, một số cụm từ “làm ăn, “sinh sống” hay “lâu dài” vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể trong văn bản nào nên thực tế rất khó áp dụng.

Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam.

BLTTDS 2014 không quy định rõ phạm vi tất cả hay chỉ một số vụ việc nhất định liên quan đến chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài. Đến BLTTDS 2015 đã có quy định cụ thể Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với trường hợp là các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.

Tuy nhiên, do chủ thể chủ yếu là các doanh nghiệp (là pháp nhân), nhưng điều luật tại BLTTDS 2015 vẫn gọi chung là “cơ quan, tổ chức” nên cần quy định cụ thể hơn.

Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam.

Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam.

Tại Khoản 2 Điều 410 BLTTDS 2004 các quy định được liệt kê những không theo tiêu chí thống nhất nên gây ra sự chồng chéo, không rõ ràng. Một số quan điểm cho rằng trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài chỉ được vận dụng quy định tại điểm g Khoản 2 để xác định thẩm quyền Tòa án Việt Nam, theo cách hiểu này thì Tòa án Việt Nam không có thểm quyền giải quyết nếu vụ việc ly hôn mà hai bên chủ thể là nước ngoài. Tuy nhiên, nếu căn cứ theo điểm b Khoản 2 thì vụ việc này thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi bị đơn đang cư trú hoặc có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam. Để khắc phục hạn chế đó, khoản d Điều 469 BLTTDS 2015 đã quy định cụ thể hơn: “Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam”.

Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

Trong BLTTDS 2014, căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự là theo pháp luật Việt Nam hoặc xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, đây là

những căn cứ phức tạp nhất trong việc xác định thẩm quyền Tòa án. Và cũng do quy định không rõ ràng nên có nhiều cách hiểu khác nhau. Tại Khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015 đã quy định rõ ràng hơn về đối tượng quan hệ là tài sản hoặc công việc và căn cứ xác lập là xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.

Mặc dù quy định này thể hiện rõ ràng hơn so với BLTTDS 2004 nhưng hiện tại vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là “xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam” nên vẫn chưa có cách hiểu thống nhất.

Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, bởi quy định tại Khoản 1 Điều 410 BLTTDS 2004 có thể hiểu theo 2 cách nên Khoản 2 Điều 469 BLTTDS 2015 cũng được sửa đổi để tránh gây nhầm lẫn. Quy định này đảm bảo sự rõ ràng, cho phép một cách hiểu thống nhất chung. Cụ thể là: Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương III của Bộ luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Thẩm quyền riêng biệt

Điểm khác biệt lớn nhất giữa thẩm quyền riêng biệt và thẩm quyền chung thể hiện qua việc:

Đối với thẩm quyền chung: Tòa án Việt Nam có thể có thẩm quyền, tòa án quốc gia nước ngoài cũng thể có thẩm quyền.

Đối với thẩm quyền riêng biệt: Đây là sự tuyên bố của pháp luật Việt Nam về các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà chỉ có Tòa án Việt nam mới có thẩm quyền giải quyết.

Theo quy định tại Điều 470 BLTTDS 2015 thì những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam:

Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài:

+ Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam.

Quy định này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật dân sự Việt Nam xuất phát từ chế độ pháp lý về sở hữu tài sản là bất động sản (quan trọng và chủ yếu là đất đai, nhà ở)

+ Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam.

Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của bên Việt Nam trong ly hôn và bảo vệ trật tự công cộng của Việt Nam khi cả hai bên đang thường trú tại Việt Nam. Có thể hiểu tiêu chí xác định thẩm quyền ở đây là nơi cư trú của vợ chồng vào thời điểm ly hôn.

+ Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam.

Theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 411 BLTTDS 2004: “b) Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển mà người vận chuyển có trụ sở chính hoặc chi nhánh tại Việt Nam”, quy định này có phạm vi rất rộng, bao gồm tất cả các tranh chấp từ hợp đồng vận chuyển khi người vận chuyển có trụ sở chính hoặc chi nhánh tại Việt Nam mà không cần xem xét các vấn đề khác. Trên thực tế, quy định này có nhiều bất cập vì giả sử như trường hợp khách hàng của hợp đồng vận chuyển là bị đơn mà việc kiện thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam thì không hợp lý. Vì vậy, BLTTDS 2015 đã bỏ quy định trên và sửa đổi bằng quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 470: “Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam”. Theo đó, thẩm quyền giải quyết vụ án sẽ được ưu tiên để các bên lựa chọn. Quy định không những thể hiện nội dung rõ ràng hơn mà còn đề cao tính dân chủ.

Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài:

+ Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này.

BLTTDS 2015 bổ sung thêm 1 quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 470: “Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này”. Bởi lẽ, bản chất việc dân sự chỉ đơn thuần là yêu cầu chứ không có tranh chấp. Vì vậy, cần bổ sung thêm quy định này để xác định đúng bản chất của vụ việc, tránh gây nhầm lẫn trong quá trình thực hiện.

+ Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.

Đây là thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam giải quyết việc dân sự có yếu tố nước ngoài và quy định này phù hợp vì thực tế vì xác nhận một sự kiện pháp lý thì không có Tòa án nước nào lại cỏ đủ cơ sở để xác định bằng Tòa án của nước nơi xảy ra sự kiện đó.

+ Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;

+ Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam.

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Trường hợp người nước ngoài bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt nếu họ cư trú tại Việt Nam và việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam.

Tuy nhiên, quy định có sử dụng từ “họ”, vậy “họ” ở đây là người yêu cầu hay là cả người yêu cầu và người bị tuyến bố hạn chế năng lực năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự.

+ Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam.

Quy định này xuất phát từ nguyên tắc xác định thẩm quyền riêng biệt của Tóa án nơi có tài sản, cũng được pháp luật nhiều nước công nhận. Ở BLTTDS 2015 đã

sử dụng cụm từ “tài sản” để thay thế cho cụm từ “bất động sản”. Khái niệm tài sản bao quát cả bất động sản và động sản.

Nhìn chung, BLTTDS 2015 không loại bỏ mà chỉ sửa đổi những quy định về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo hướng quy định đầy đủ, cụ thể hơn, đảm bảo đáp ứng được yêu cầu hội nhập của đất nước, phù hợp với cam kết của Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Bài viết cùng chủ đề:

Quy định về miễn trừ tư pháp quốc gia trong tư pháp quốc tế

Đại lý vé số cấp 1 cần những điều kiện như thế nào?

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *