Giới thiệu các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong tư pháp quốc tế

1. Khái quát về quy phạm trong tư pháp quốc tế

Tư pháp quốc tế Việt Nam có đối tượng điều chỉnh là quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài và quan hệ tố tụng dân sự quốc tế; có hai phương pháp điều chỉnh cơ bản là phương pháp thực chất (sử dụng quy phạm thực chất) và phương pháp xung đột (sử dụng quy phạm xung đột).Quy phạm thực chất là quy phạm trực tiếp quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên, hình thức, biện pháp chế tài cụ thể…Quy phạm xung đột là quy phạm gián tiếp, là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể.

Trong tư pháp quốc tế, khi xuất hiện xung đột pháp luật tức là xuất hiện hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể tham gia điều chỉnh quan hệ và không phải lúc nào các quan hệ này cũng được điều chỉnh bằng các quy phạm thực chất, nên các cơ quan có thẩm quyền phải “ chọn” trong hai hay nhiều hệ thống pháp luật có liên quan ấy một hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan hệ đang xem xét. Quy phạm xung đột chính là căn cứ pháp lý của sự lựa chọn này. Quy phạm xung đột trước hết là một quy phạm pháp luật nhưng là một quy phạm pháp luật đặc biệt bởi quy phạm xung đột không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ mà chỉ nhằm xác định hệ thống pháp luật áp dụng mà thôi. Có thể định nghĩa, quy phạm xung đột là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể.

2. Quyền sở hữu trí tuệ là gì?

    Quyền sở hữu trí tuệ là quyền hợp pháp của chủ sở hữu đối với tài sản trí tuệ như sản phẩm sáng tạo trí tuệ, sử dụng và chuyển giao các đối tượng của quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng. Như vậy, có thế nói, quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền đối với tài sản vô hình là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của các chủ thể,được pháp luật quy định bảo hộ.

    Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ như sau:

– Đối tượng được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là các tác giả của các tác phẩm, tác giả của sáng chế, thiết kế kiểu dáng công nghiệp, chủ sở hữu của người sáng chế ra cây trồng mới.

– Cách thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là áp dụng các biện pháp khác nhau để xử lí hành vi xâm phạm tùy theo tính chất và mức độ xâm phạm.

– Chủ thể áp dụng biện pháp bảo vệ có thể là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc các cơ quan nhà nước. Các công ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ cũng như pháp luật Việt Nam đều cho phép chủ thể quyền sở hữu trí tuệ tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu của mình.

Giới thiệu các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong tư pháp quốc tế
Giới thiệu các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong tư pháp quốc tế

3. Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam là thành viên

   Thứ nhất, các điều ước quốc tế đa phương: Hiện nay trên thế giới có rất nhiều điều ước quốc tế đa phương quan trọng về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ như:

  Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Công ước gồm 38 điều, tạo ra hành lang pháp lí thống nhất trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học và nghệ thuật của mình.Công ước này đặt ra 3 nguyên tắc cơ bản gồm nguyên tắc đối xử quốc gia,nguyên tắc bảo hộ độc lập và nguyên tắc bảo hộ tự động. Những người được bảo hộ ở đây là các tác giả là công dân của một trong những nước là thành viên Liên hiệp cho các tác phẩm của họ đã xuất bản hay chưa, các tác giả không là công dân của một trong những nước là thành viên Liên hiệp cho những tác phẩm của họ xuất bản lần đầu tiên ở một trong những nước là thành viên Liên hiệp, các tác giả không là công dân của một nước thành viên nhưng có nơi cư trú thường xuyên là một trong những nước là thành viên của Liên hiệp.Thời gian bảo hộ là do pháp luật nước sở tại quy định, tuy nhiên thời bảo hộ không được quá thời hạn quy định tại quốc gia gốc trừ trường hợp pháp luật nước đó có quy định khác. Ví dụ như theo quy định của pháp luật Việt Nam, thời hạn bảo hộ quyền tác giả là suốt đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời.

    Công ước Paris 1883, đây là Công ước quốc tế đa phương đầu tiên quy định về bảo hộ sở hữu công nghiệp.Mục đích chủ yếu của Công ước là nhằm xây dựng các điều kiện có lợi cho việc cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp là công dân, pháp nhân của nước thành viên này tại lãnh thổ của các nước thành viên khác.Công ước áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia. Các nước thành viên phải có nghĩa vụ trong việc bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp.Việt Nam đã là thành viên của Công ước.

    Hiệp ước hợp tác sáng chế 1970 (PTC): hiệp ước là sự phát triển quan trọng nhất của hợp tác sáng chế trong lĩnh vực sáng chế. Mục đích của Hiệp ước này là đơn giản hóa thủ tục cấp văn bằng bảo hộ đối với các tác phẩm sáng chế. Hiện nay, Việt Nam cũng đã là thành viên của Hiệp ước.

    Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV). Theo đó các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải công nhận và bảo hộ quyền của nhà tạo giống. Nguyên tắc bảo hộ của Công ước là nguyên tắc đối xử quốc gia, thời gian bảo hộ là 15 năm. Việt Nam hiện đã là thành viên của Công ước.

     Ngoài những Công ước trên, Việt Nam còn là thành viên của một số Công ước như: Công ước toàn cầu về quyền tác giả 1952 (UCC), Công ước Roma 1961, Hiệp định TRIPS 1994, Hiệp ước quyền tác giả 1996(WCT),…

     Thứ hai, các điều ước quốc tế song phương: Không chỉ là thành viên của các điều ước quốc tế đa phương trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Việt Nam còn kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương quan trọng về sở hữu trí tuệ với nhiều quốc gia trên thế giới, ví dụ như:

      Hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ về thiết lập quyền tác giả(BCA). Với hiệp định này, hai bên cam kết bảo hộ các tác phẩm của công dân của nhau trên nguyên tắc áp dụng chế độ đãi ngộ quốc dân. Quyền bảo hộ ở đây bao gồm các quyền tối thiểu, quyền độc quyền sao chép, phân phối, trưng bày, phổ biến công cộng với những hạn chế và ngoại lệ theo tiêu chuẩn của Điều 9 Công ước Berne. Các nghĩa vụ được thực hiện theo quy định trên lãnh thổ quốc gia nào thì theo quy định của luật pháp quốc gia đó.

      Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) tuy là Hiệp định thương mại nhưng lại dành một chương với 18 điều quy định về sở hữu trí tuệ.Hiệp định này quy định về nghĩa vụ của các bên kí kết áp dụng các biện pháp được thực thi tại biên giới, biện pháp dân sự và hình sự, bao gồm các biện pháp xử lí hình sự và ngăn chặn theo các chuẩn mực của Hiệp định TRIPS, thực hiện theo quy định của pháp luật quốc gia.

      Hiệp định giữa Việt Nam – Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Theo Hiệp định này, Việt Nam sẽ nhận được sự hỗ trợ kĩ thuật từ phía Liên bang Thụy Sỹ. Các đối tượng được bảo hộ trong Hiệp định bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, kể cả chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng và thông tin không được công bố,…

    Ngoài ra pháp luật Việt Nam còn các quy định riêng về sở hữu trí tuệ, được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015, luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009.

Bài viết cùng chủ đề:

Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam

Pháp nhân nước ngoài là gì? Cách xác định quốc tịch của pháp nhân

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Giới thiệu các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong tư pháp quốc tế. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *