Điểm mới của luật hợp tác xã

Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Hợp tác xã 

Hợp tác xã ở Việt Nam được ra đời, được quan tâm từ rất sớm, từ ngay sau khi đất nước giành được độc lập. Trải qua các thời kỳ, cho đến nay HTX vẫn tồn tại và phát triển do có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, HTX luôn giữ được một vị thế của riêng mình. 

Thay đổi khái niệm hợp tác xã, làm rõ hơn bản chất hợp tác xã.

  Luật HTX 2003 Luật HTX 2012
Khái niệm HTX Điều 1 Luật HTX 2003:Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã,….Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, ….. Khoản 1 điều 3 Luật HTX 2012: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.

     So với luật HTX 2003 thì luật HTX 2012 là một bước tiến đột phá trong việc thể hiện bản chất của mô hình HTX. Tại điều 1 Luật HTX 2003 có quy định: “ HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”, quy định này cho thấy rõ sự không chặt chẽ về pháp luật, không làm rõ được địa vị pháp lý của HTX trong cơ chế thị trường, không làm rõ sự khác biệt giữa HTX và doanh nghiệp, dễ gây hiểu lầm coi HTX như doanh nghiệp. 

       Mặt khác, điều 1 luật HTX 2003 cũng quy định: “… cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra…” không còn phù hợp với nền kinh tế hiện đại ngày nay.

       Khoản 2  điều 4 luật HTX 2003 có giải thích: Góp sức là việc xã viên tham gia xây dựng hợp tác xã dưới các hình thức trực tiếp quản lý, lao động sản xuất, kinh doanh, tư vấn và các hình thức tham gia khác.”

       Tuy nhiên điều này chưa thực sự rõ ràng bởi các đối tượng là pháp nhân hay công chức có thể là xã viên HTX nhưng cũng chỉ có thể góp vốn mà không thể góp sức vào HTX. Quy định như vậy đã làm hạn chế sự tham gia rộng rãi của các thành viên vào HTX., và cũng gây khó khăn trong việc huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Luật HTX 2012 đã có sự sửa đổi rất lớn trong định nghĩa về HTX, không những bỏ cụm từ “hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”, “góp vốn, góp sức” như trong đạo luật cũ mà còn ghi nhận đậm nét mục đích thành lập  của HTX là vì nhu cầu và nguyện vọng chung của xã viên.

     Định nghĩa này đã làm rõ hơn bản chất đích thực của HTX là là tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể; được thành lập trên tinh thần tự nguyện; trên cơ sở và nguyện vọng chung; thể hiện tính chất đối nhân sâu sắc thông qua việc quy định các thành viên thành lập vừa là đồng sở hữu, vừa là khách hàng của HTX.

     Trước tiên, cụm từ “hợp tác” trong HTX thể hiện mỗi quan hệ tự nguyện tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên – những người có vị thế yếu trên thị trường, đặc biệt là nông dân, đồng thời làm hài hoà hơn MQH giữa người làm chủ và người làm thuê. 

     Tiếp đó, sửa đổi, bổ sung định nghĩa HTX trong luật HTX 2012 làm rõ được sự khác biệt giữa HTX và doanh nghiệp, với tổ chức xã hội – từ thiện, không coi HTX như doanh nghiệp. Định nghĩa mới cho thấy hợp tác xã là tổ chức kinh tế do thành viên tự nguyện lập ra nhằm tối đa hoá lợi ích của từng thành viên. Lợi ích mà HTX hướng tới không chỉ là lợi ích kinh tế mà bao gồm cả lợi ích XH, lợi ích của các thành viên. HTX lấy con người và lợi ích thành viên làm trung tâm, lấy đối nhân làm nguyên tắc tổ chức và hoạt động.

     Với khái niệm mới này, bản chất HTX đã được làm rõ, thể hiện được vai trò giữa người chủ và thành viên khi tham gia HTX, mục tiêu của HTX và mối quan hệ, nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích của thành viên HTX.

Số vốn góp tối đa của thành viên hợp tác xã.

  Luật HTX 2003 Luật HTX 2012

Số vốn góp tối đa
Điều 19. Nghĩa vụ của xã viênXã viên có các nghĩa vụ sau đây:1. Chấp hành Điều lệ, Nội quy hợp tác xã, các nghị quyết của Đại hội xã viên;2. Góp vốn theo quy định của Điều lệ hợp tác xã; mức vốn góp không vượt quá ba mươi phần trăm vốn điều lệ của hợp tác xã;   Điều 17. Góp vốn điều lệ và giấy chứng nhận vốn góp1. Đối với hợp tác xã, vốn góp của thành viên thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ nhưng không quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã.2. Đối với liên hiệp hợp tác xã, vốn góp của hợp tác xã thành viên thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ nhưng không quá 30% vốn điều lệ của liên hiệp hợp tác xã.

     Khoản 1, khoản 2 điều 17 quy định mức vốn góp tối đa của thành viên hợp tác xã là 20% vốn điều lệ, của thành viên liên hiệp hợp tác xã là không quá 30% vốn điều lệ (mức vốn góp của thành viên HTX, LH HTX đều là 30% theo quy định của luật HTX 2003).

     Vốn  góp trong HTX, LH HTX chủ yếu là để xác nhận tư cách thành viên của HTX; nếu như đối với DN, vấn đề hạn chế việc góp vốn không bao giờ phải đặt ra thì đối với HTX, liên hiệp HTX đây lại là vấn đề nóng. Bởi lẻ, việc quy định mức vốn góp tối đa của thành viên nhằm giúp khẳng định bản chất khác biệt mủa mô hình HTX, LH HTX là đề cao nguyên tắc bình đẳng trong quản lý HTX, LH HTX, đề cao nguyên tắc thu hút nhiều người tham gia để có nhiều vốn hoạt động chưa không phải huy động nhiều vốn từ một hoặc một số thành viên; nhằm thể hiện tính chất của mộ loại quan hệ xã hội của những nguowì có nhu cầu chung về kinh tế, văn hoá, xã hội có vị thế yếu hơn và có sức cạnh tranh kém hơn trên thị trường.

   Mức chênh lệch vốn góp giữa các thành viên cần không quá lớn. Sự cần thiết hạn chế mức vốn góp vào HTX, LH HTX của các thành viên cũng giúp cho nguyên tắc có tính chất nền tảng của HTX phát huy giá trị. Đó là nguyên tắc: Một thành viên chỉ có một phiếu biểu quyết. Xuất phát từ tính chất đối nhân của HTX, LH HTX. Do đó, nếu không hạn chế mức vốn góp tối đa, để một thành viên muốn góp bao nhiêu cũng được, thì nguyên tắc này sẽ bị vô hiệu hoá vì trên thực tế, người có quá nhiều vốn sẽ có thực quyền hơn so với người có ít vốn. Mặt khác, nếu để cho một thành viên góp quá nhiều vốn thì khi thành viên đó rút vốn, HTX sẽ gặp khó khăn, hây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh hoanh khi vốn bị thu hẹp hoặc có thể làm cho HTX giải thể. Còn nếu giảm mức vốn góp tối đa của thành viên thì sẽ khuyến khích nhiều thành viên góp vốn thay vì chỉ huy động vốn góp của một số ít thành viên, tránh rủi ro cao cho hợp tác xã khi phụ thuộc vào vốn góp của một hoặc một số ít thành viên.

   Do vậy, quy định về mức vốn góp tối đa của Luật HTX 2012 giảm so với mức vốn góp tối đa Luật HTX 2003 quy định là hợp lý, là tiền đề góp phần không nhỏ cho sự hoạt động ổn định và phát triển của các HTX ở Việt Nam sau khi Luật này có hiệu lực.\

Điều kiện trở thành thành viên và tên gọi của thành viên hợp tác xã.

  Luật HTX 2003 Luật HTX 2012

Điều kiện trở thành thành viên hợp tác xã
Điều 17: Điều kiện trở thành xã viên.1. Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có góp vốn, góp sức, tán thành Điều lệ hợp tác xã, tự nguyện xin gia nhập hợp tác xã có thể trở thành xã viên.Cán bộ, công chức được tham gia hợp tác xã với tư cách là xã viên theo quy định của Điều lệ hợp tác xã nhưng không được trực tiếp quản lý và điều hành hợp tác xã.2. Hộ gia đình, pháp nhân có thể trở thành xã viên theo quy định của Điều lệ hợp tác xã. Khi tham gia hợp tác xã, hộ gia đình, pháp nhân phải cử người đại diện có đủ điều kiện như đối với cá nhân tham gia.3. Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có thể là xã viên của nhiều hợp tác xã trong trường hợp Điều lệ hợp tác xã không cấm.  Điều 13: Điều kiện trở thành xã viên.1. Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân trở thành thành viên hợp tác xã phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:a) Cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hộ gia đình có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật; cơ quan, tổ chức là pháp nhân Việt Nam.Đối với hợp tác xã tạo việc làm thì thành viên chỉ là cá nhân;b) Có nhu cầu hợp tác với các thành viên và nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã;c) Có đơn tự nguyện gia nhập và tán thành điều lệ của hợp tác xã;d) Góp vốn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật này và điều lệ hợp tác xã;đ) Điều kiện khác theo quy định của điều lệ hợp tác xã.
Tên gọi của thành viên  Xã viên Thành viên hợp tác xã

Về điều kiện trở thành thành viên hợp tác xã thì theo Luật hợp tác xã năm 2003 cá nhân Việt Nam từ 18 tuổi thì có thể trở thành thành viên hợp tác xã, còn theo Luật hợp tác xã năm 2012 thì cá nhân Việt Nam phải đủ 18 tuổi mới có thể trở thành thành viên hợp tác xã. Việc quy định cá nhân đủ 18 tuổi mới có thể trở thành thành viên hợp tác xã là hoàn toàn hợp lý phù hợp với quy định của pháp luật vì theo quy định của pháp luật Dân sự thì cá nhân từ đủ 18 tuổi mới có năng lực hành vi dân sự đầy đủ vì khi đó về mặt pháp lý cá nhân đó mới khả năng nhận thức đầy đủ về hành vi của mình cho nên có thể tự mình tham gia vào các quan hệ pháp luật và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình (mặc dù Nghị định số 177/2004/NĐ-CP hướng dẫn Luật hợp tác xã năm 2003 cũng hướng dẫn cá nhân đủ 18 tuổi mới có thể trở thành thành viên của hợp tác xã nhưng đây lại là văn bản dưới luật và so sánh hai văn bản Luật hợp tác xã năm 2003 và 2012 thì đã có quy định khác nhau).

Luật hợp tác xã năm 2012 còn cho phép cá nhân là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam và đáp ứng các điều kiện chung thì cũng có thể trở thành thành viên hợp tác xã. Quy định này tạo điều kiện cho cá nhân nước ngoài cư trú ở Việt Nam nếu có nhu cầu góp vốn, góp sức có thể tham gia vào hợp tác xã, đồng thời cũng tạo thêm khả năng phát triển của hợp tác xã khi có điều kiện mở rộng giao lưu với người nước ngoài. 

Trong quá trình nước ta đổi mới, mở cửa và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, hiện nay có hàng trăm nghìn người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Họ có tiềm năng dồi dào về sức lao động, vốn liếng, trình độ và kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ,…Nếu họ có cơ hội gia nhập các hợp tác xã thì sẽ góp phần thiết thực và có hiệu quả vào sự phát triển mọi mặt của các hợp tác xã. Việc cho phép người nước ngoài cũng có thể trở thành thành viên hợp tác xã ở Việt Nam đã thể hiện sự đổi mới tư quy và chính sách về hợp tác xã của Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ mới.

Quy định đầy đủ hơn về quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã.

          ⚫ Quyền được cung ứng, tiêu thụ sản phẩm ra thị trường.

Trên thực tế, ngoài việc áp dụng như cầu chung, nguyện vọng chung của các thành viên thì HTX vẫn có thể đáp ứng các nhu cầu của các chủ thể khác không phải thành viên HTX. Vì vậy, đã đặt ra vấn đề là có nên cho phép HTX cung ứng sản phẩm, dịch vụ ra bên ngoài hay không và nếu cho phép thì nên ở mức độ nào thig hợp lý.

     Luật HTX 2003 quy định HTX có quyền cung ứng sản phẩm ra thị trường đại chúng, tuy nhiên không hạn chế việc HTX cung cấp sản phẩm, dịch vụ ra bên ngoài thành viên, đồng thời quy định: “ HTX hoạt động như doanh nghiệp” gây nên cách hiểu lệch lạc HTX là DN. Đến Luật HTX 2012 đã bổ dung về sự bắt buộc giới hạn sản phẩm, dịch vụ cung cấp ra bên ngoài cộng đồng thành viên, theo đó: “ HTX chỉ được cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ việc làm cho thành viên, HTX thành viên và ra thị trường nhưng phải bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ đối với thành viên, hợp tác xã thành viên (khoản 4 điều 8). 

     Quy định này là cần thiết; xuất phát từ một vấn đề có tính chất nền tảng, đó là lý do ra đời của HTX, LH HTX: Là tổ chức kinh tế do các thành viên thành lập nhằm mục đích hỗ trợ cho hoạt động của mình, giúp các thành viên thoả mãn tốt hơn nhu cầu chung để nhằm đảm bảo HTX, LH HTX được cung cấp sản phẩm, dịch vụ ra thị trường thể hiện bằng rằng Luật đã không biến HTX, LH HTX  trở lại mô tình là tổ chức tự cung, tự cấp về hàng hoá, dịch vụ hoặc việc làm, đảm bảo cho mục tiêu hoạt động của HTX, LH HTX nên cần phải có giới hạn. 

          ⚫ Nghĩa vụ của các thành viên hợp tác xã.

     Bên cạnh đó, Luật hợp tác xã cũng bổ sung quy định về nghĩa vụ của các thành viên hợp tác xã là phải có nghĩa vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã. Luật hợp tác xã năm 2003 không có quy định về nghĩa vụ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của hợp tác xã đối với xã viên và các nghĩa vụ của các xã viên nên đã dẫn đến tình trạng hợp tác xã tùy tiện cung cấp dịch vụ ra bên ngoài, phục vụ lợi ích của xã viên thì ít, phục vụ cho bên ngoài thì nhiều. Đây là một khuyết điểm rất lớn của Luật hợp tác xã năm 2003. Khắc phục những hạn chế này, Luật hợp tác xã năm 2012 đã quy định cụ thể là thành viên hợp tác xã phải sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã cung cấp. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định  hợp tác xã phải đảm bảo việc phục vụ lợi ích của các thành viên. Chỉ khi các nhu cầu về lợi ích của các thành viên đã được đáp ứng, hợp tác xã mới được quyền cung ứng dịch vụ ra bên ngoài. Đây là quy định rất mới, rất phù hợp để đảm bảo việc bảo vệ quyền và lợi ích của thành viên hợp tác xã cũng như chính việc duy trì hoạt động hợp tác xã.

    Quy định của Luật HTX 2012 như vậy là hợp lý, nhằm đảo bảo cho hoạt động HTX, LH HTX đúng bản chất là phục vụ thành viên, đồng thời hoạt động đúng theo nguyên tắc “ cam kết kinh tế” thể hiện tính đối nhân sâu sắc, qua đó thành viên có trách nhiệm góp vốn, góp sức; phải sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho HTX, LH HTX và ngược lại HTX, LH HTX phải có trách nhiệm đáp ứng các yêu cầu trong sản xuất kinh doanh, bảo đảm đời sống của thành viên, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung của các thành viên. 

   Quyền và nghĩa vụ của thành viên HTX, LH HTX chính là điểm thể hiện rõ nét nhất bản chất đích thực của HTX, LH HTX phân biệt rạch ròi giữa HTX và DN. Đây là những quy định cần thiết để thực hiện tính đặc thù của HTX,  tránh trường hợp đội lốt HTX để được hưởng các ưu đã nhưng thực chất lại hoạt động không khác gì doanh nghiệp.

Nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, thành viên hợp tác xã.

          ⚫ Mô hình quản trị.

Theo Luật HTX 2012, mô hình quản trị trong HTX là mô hình đơn nhất, không có sự phân biệt tuỳ theo trường hợp giữa quản trị và điều hành như trong Luật HTX 2003 (được phép chọn 1 trong 2 mô hình tổ chức, gồm: Một bộ máy vừa điều hành hoặc thành lập riêng bộ máy quản lý – Điều 27 và bộ máy điều hành – Điều 28).

   Cơ cấu tổ chức quản lý HTX, LH HTX bao gồm: Đại hội thành viên, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) và ban kiểm soát hoặc kiếm soát viên (điều 29. Tên gọi của các cơ quan quản lý điều hành trong HTX, LH HTX đã hoàn toàn thay đổi, không còn được gọi là Đại hội Xã viên, Ban quản trị mà sử dụng các tên gọi giống như các cơ quan trong cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp 2005.

          ⚫ Về tên gọi một số chức danh.

Ban quản trị được đổi thành Hội đồng quản trị; chủ nhiệm, phó chủ nhiệm được gọi là giám đốc, phó giám đốc HTX; xã viên được gọi chung là thành viên (Điều 35 – Điều 40)

          ⚫ Về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh quản lý.

   Luật HTX 2012 làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh quản lý của chủ sở hữu, người điều hành HTX, LH HTX (Điều 32, 36, 37) nhằm tách bạch các chức năng quản lý chủ sở hữu và chức năng điều hành, tránh chồng chéo và nguy cơ lạm quyền trong quản lý, điều hành HTX, LH HTX.

   Quy định rõ hơn về quyền và trách nhiệm của cán bộ quản lý HTX, LH HTX buộc cán bộ phải gắn bó, tận tâm và năng động trong tổ chức, quản lý và hoạt động của HTX, LH HTX (Điều 38, Điều 39).

Thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh.

        ⚫ Thay vì quy định như trong Luật HTX 2003: “ Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lên, cơ quan đăng ký kinh doanh phải xem xét hồ sơ và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho HTX; trường hợp từ chối thì phải trả lời bằng văn bản” thì nay tại điều 23 Luật HTX 2012, khoản 3 điều 14 nghị định 193/2013/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật HTX đã rút ngắn thời hạn còn : Thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ theo quy định tại khoản 2 điều này trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do.

          ⚫ Về thủ tục giải thể HTX theo hình thức tự nguyện:

Luật HTX hiện hành cũng đã có nhiều sửa đổi mang tính mở hơn, tạo chủ động cho các HTX, LH HTX; làm giảm bớt sự can thiệp quyền lực của  Nhà nước nào quyết định của HTX. Thay vì phải gửi Đơn xin giải thể cùng Nghị quyết địa hội xã viên đến cơ quan đăng ký kinh doanh đã cấp GCNĐK kinh doanh cho HTX, LH HTX để xin sự phê chuẩn chấp thuận hoặc không chấp thuận cho giải thể, thì nay các HTX, LH HTX chỉ cần gửi thông cáo về việc giải thể tới cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận đăng ký cho HTX trong vòng 60 ngày kể từ ngày Đại hội thành viên ra Nghị quyết giải thể tự nguyện (Khoản 1 điều 54). Trình tự, thủ tục giải thể được quy định tại khoản 1 điều 19 Nghị định 193/2013/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều Luật HTX.

Xác định rõ hơn về chính sách ưu đãi, hỗ trợ hợp tác xã.

   Tại điều 6 Luật HTX 2012 làm rõ hơn về 06 danh mục chính sách hỗ trợ, 02 danh mục chính sách ưu đãi chung cho các loại hình HTX, LH HTX, đặc biệt là trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; Ngoài chính sách hỗ trợ ưu đãi trên còn hưởng thêm 5 mục ưu đãi nữa về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; giao đất, cho thuê đất để phục vụ hoạt động tín dụng; vốn; giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh. Chính sách ưu đãi này được quy định cụ thể tại Chương 4 nghị định 193/2013/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật HTX.

   Luật HTX 2012 có quy định như vậy cho thấy sự phù hợp với bản chất HTX, LH HTX. Theo đó, chỉ những HTX, LH HTX hoạt động theo đúng bản chất của HTX mới được hưởng chính sách này, bảo đảm khuyến khích phát triển HTX, LH HTX một cách lành mạnh, vững chắc; đồng thời không tạo ra những tác động tiêu cực tới môi trường cạnh tranh lành mạnh chung của nên kinh tế. 

   Tại điều 6 Luật HTX 2012 đã xác định cụ thể hơn những chính sách, những ưu đãi mà Nhà nước dành cho HTX, LH HTX chứ không phải những quy định chung chung như điều 3 của Luật HTX 2003.

Nhận thấy rằng, Luật dành riêng những chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt đối với HTX, LH HTX hoạt động trong lĩnh cực nông, lâm, ngư nghiệp, diêm nghiệp về giá, rủi ro thị trường, đầu tư phương tiện, thiết bị phục vụ hoạt động. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *