Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam

1. Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài 

      Địa vị pháp lý theo nghĩa hẹp được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho một chủ thể pháp luật, tạo cho chủ thể đó có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Theo nghĩa rộng thì địa vị pháp lý là một khái niệm pháp lý phức tạp có nội dung rộng được thể hiện ở nhiều yếu tố như quyền năng chủ thể, hệ thống quyền và nghĩa vụ pháp lý, cùng các nguyên tắc pháp lý làm cơ sở xây dựng hệ thống quyền và nghĩa vụ pháp lý, các lợi ích hợp pháp cùng với những bảo đảm pháp lý đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể. Trong đó thì quyền năng chủ thể, hệ thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý, các lợi ích hợp pháp của chủ thể là những yếu tố cơ bản cấu thành nên địa vị pháp lý của chủ thể.

    Từ cách tiếp cận trên, khi nghiên cứu về địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài các nội dung được tập trung nghiên cứu là đặc điểm chung về địa vị pháp lý của pháp nhân, năng lực chủ thể của pháp nhân, các quyền và nghĩa vụ dân sự cơ bản của pháp nhân.

Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam
Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam

2. Điểm chung giữa pháp nhân Việt Nam và pháp nhân nước ngoài

      Khi pháp nhân mang quốc tịch của một nước nhất định và được tổ chức hoạt động theo pháp luật của nước đó. Tuy nhiên, khi hoạt động với tư cách là pháp nhân nước ngoài ở một quốc gia nào đó, pháp nhân cùng lúc phải chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật là luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch và pháp luật của quốc gia sở tại nơi pháp nhân hoạt động. Mỗi quốc gia sẽ điều chỉnh các vấn đề khác nhau của pháp nhân nước ngoài. Pháp luật quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch nước ngoài sẽ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tổ chức thành lập pháp nhân như vấn đề về điều kiện và thủ tục thành lập, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, chia tách, tài sản của pháp nhân. Còn pháp luật quốc gia sở tại sẽ điều chỉnh các vấn đề liên quan đến phạm vi hoạt động của pháp nhân, các quyền và nghĩa vụ cụ thể của pháp nhân trên lãnh thổ của quốc gia đó. Không chỉ vậy, khi pháp nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam thì địa vị pháp lý của pháp nhân còn chịu sự điều chỉnh trực tiếp bởi các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, như các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hiệp định thương mại…

3. Năng lực chủ thể của pháp nhân nước ngoài

     Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập. Nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm đăng ký và năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt hoạt động của pháp nhân. Pháp luật các nước khác nhau có các quy định khác nhau về năng lực chủ thể của pháp nhân. Theo pháp luật Việt Nam, khoản 2 Điều 676 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân; tên gọi của pháp nhân; đại diện theo pháp luật của pháp nhân; việc tổ chức, tổ chức lại, giải thể pháp nhân; quan hệ giữa pháp nhân với thành viên của pháp nhân; trách nhiệm của pháp nhân và thành viên của pháp nhân đối với các nghĩa vụ của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này”. Từ đó có thể thấy rằng, pháp nhân mang quốc tịch nước nào thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân và hàng loạt các nội dung kể trên sẽ được xác định theo pháp luật nước đó. Bởi quốc tịch của pháp nhân là mối liên hệ giữa pháp nhân với một nhà nước nhất định, vì vậy, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phải được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân đó mang quốc tịch.

    Mặt khác, bên cạnh nguyên tắc chủ đạo là luật quốc tịch của pháp nhân, pháp luật Việt Nam quy định trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam (khoản 3 Điều 676 BLDS 2015). Quy định này nhằm đảm bảo mọi hoạt động của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và cụ thể ở đây là pháp nhân nước ngoài sẽ có các quyền và nghĩa vụ như pháp nhân Việt Nam (trừ trường hợp ngoại lệ). Khoản 2 và khoản 3 Điều 676 BLDS 2015 đã chỉ ra rằng để xác định năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam, tư pháp quốc tế Việt Nam kết hợp cả luật nơi pháp nhân mang quốc tịch và pháp luật Việt Nam. Có thể thấy rằng các quy định về việc xác định năng lực chủ thể của pháp nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam không chỉ bảo đảm về quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân nước ngoài mà còn bảo đảm các hoạt động của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam luôn phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam. Ngoài ra, việc xác định năng lực chủ thể của pháp nhân còn được quy định trong các HĐTTTP mà Việt Nam kí kết với các nước như: HĐTTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước CHXHCN Việt Nam và Liên bang CHXHCN Xô Viết (ký ngày 10/12/1981), với CHXHCN Tiệp Khắc (ký ngày 10/12/1982), với Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (ký ngày 06/7/1998),…

Bài viết cùng chủ đề:

Giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Quy định về hoạt động của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Địa vị pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *