Phân tích cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN

Bài viết phân tích cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN.

1. Hạn chế và xóa bỏ rào cản thương mại dịch vụ trong ASEAN

Khác với thương mại hàng hóa, rào cản thuế quan không làm ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ. Bởi vậy, để bảo hộ cho các nhà cung cấp dịch vụ trong nước, hạn chế hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, các quốc gia thường sử dụng các biện pháp để hạn chế các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tại hai thời điểm:

Thứ nhất, khi nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài muốn được phép cung cấp và/hoặc muốn được có mặt tại quốc gia chủ nhà để cung cấp dịch vụ. Quốc gia thường đưa ra các điều kiện mà nếu không đáp ứng được thì nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ không được phép cung cấp dịch vụ tại quốc gia chủ nhà. Đây chính là các rào cản về mở cửa thị trường, hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của các nhà cung cấp dịch vụ, hạn chế về tổng giá trị của các giao dịch dịch vụ,… cụ thể: hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ; hạn chế tổng giá trị giao dịch dịch vụ hoặc tài sản; hạn chế tổng số lượng dịch vụ hoặc tổng số lượng dịch vụ cung cấp; hạn chế về thể nhân được tuyển dụng; hạn chế hoặc yêu cầu về hình thức pháp nhân; yêu cầu về hình thức pháp nhân hoặc liên doanh; hạn chế tỷ lệ vốn góp nước ngoài,…

Thứ hai, sau khi nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đã được cung cấp dịch vụ và/hoặc đã có mặt tại quốc gia chủ nhà. Các điều kiện được nêu ra thường là những biện pháp phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp hoặc các sản phẩm dịch vụ của quốc gia sở tại với các nhà cung cấp hoặc sản phẩm dịch vụ nước ngoài. (các yêu cầu về quốc tịch, các biện pháp thuế, yêu cầu về chuyển giao công nghệ.)

Nói cách khác, rào cản thương mại dịch vụ bao gồm hai loại: các biệp pháp hạn chế tiếp cận thị trường và các biện pháp phân biệt đối xử. Do đó, để thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ sẽ phải hạn chế hoặc tiến tới xóa bỏ hai loại rào cản này.

Cơ chế hạn chế và xóa bỏ các rào cản thương mại dịch vụ được thực hiện như sau:

– AFAS đưa ra khung pháp lý chung cho tiến trình hạn chế và xóa bỏ các rào cản thương mại.

– Các văn bản pháp lý về hội nhập các nghành ưu tiên đưa ra phạm vi và lộ trình cụ thể cho các lĩnh vực dịch vụ được ưu tiên hội nhập.

– Trên cơ sở và để triển khai cụ thể AFAS, các quốc gia thành viên sẽ tiến hành các vong đàm phán để đưa ra các gói cam kết theo hướng ngày càng mở rộng phạm vi các lĩnh vực dịch vụ được tự do hóa đồng thời mức độ tự do hóa của từng lĩnh vục dịch vụ sẽ ngày càng được nâng cao.

  Cách thức xóa bỏ rào cản trong thương mại dịch vụ thể hiện trong các hiệp định :

– Theo AFAS 1995: cơ chế AFAS đưa ra khung pháp lý và lộ trình chung cho toàn bộ các dịch vụ; xây dựng lộ trình cụ thể cho mỗi phương thức cung cấp dịch vụ hoặc mỗi loại dịch vụ thông qua các vong đám phán; các Quốc gia xây dựng lộ trình quốc gia trên cơ sở lộ trình chung dựa trên nguyên tắc chọn cho – các bên cam kết mở cửa những ngành/phân ngành dịch vụ đã được liệt kê trong các gói cam kết của các quốc gia thành viên. Bằng các biện pháp xóa bỏ rào cản hiện tại; cấm đưa ra các biện pháp mới; đàm phán về các biện pháp gây ảnh hưởng tới tự do hóa thương mại dịch vụ trong các lĩnh vực cụ thể.

– Theo ATISA 2019: các bên cam kết mở cửa tất cả các ngành dịch vụ ngoại trừ các ngành/phân ngành được liệt kê trong Danh sách các biện pháp không tương thích (Danh sách thiết lập riêng theo theo cam kết của từng nước thành viên ASEAN) dựa trên nguyên tắc tiếp cận thị trường (Điều 8), không phân biệt đối xử (Điều 6), hiện diện tại địa phương (Điều 9).

Phân tích cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN.
Phân tích cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN.

2. Công nhận lẫn nhau trong ASEAN

2.1. Công nhận lẫn nhau trong ASEAN là gì?

Công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên sẽ tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ chuyen môn nước ngoài tiếp cận và thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ tại thị trường của quốc gia khác. Thừa nhận ý nghĩa của công nhận lẫn nhau, Điều 5 Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ quy định: “Mỗi quốc gia thành viên có thể công nhận trình độ giáo dục hoặc kinh nghiệm nhận được, các yêu cầu đã được thỏa mãn, hoặc các giấy chứng nhận hoặc giấy phép đã được cấp tại quốc gia thành viên khác, để sử dụng cho mục đích cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận nhà cung cấp dịch vụ … trên cơ sở hiệp định hoặc thỏa thuận với quốc gia thành viên có liên quan, hoặc có thể đơn phương công nhận.”. Theo Khoản 1 Điều 17 ATISA 2019: Công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ của ASEAN là hoạt đọng của quốc gia này công nhận trình độ giáo dục hoặc kinh nghiệm nhận được; các tiêu chuẩn đã được thỏa mãn hoặc bằng cấp, chứng chỉ được cấp tại một quốc gia thành viên ẤEAN khác để sử dụng cho mục địch cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận nhà cung cấp dịch vụ tại quốc gia thành viên đó.

2.2. Cơ sở pháp lý của công nhận lẫn nhau trong ASEAN

Theo quy định tại các thỏa thuận công nhận hiện nay của ASEAN, trong một số ngành dịch vụ chuyên môn, công dân một quốc gia ASEAN có thể cung cấp dịch vụ tại quốc gia thành viên khác trên cơ sở được công nhận chứng chỉ nghề nghiệp và được cấp phép hành nghề. Để được công nhận chứng chỉ nghề nghiệp, người nộp đơn phải thỏa mãn những điều kiện nhất định. Chứng nhận về đào tạo sẽ được quốc gia thành viên nơi người đó nộp đơn yêu cầu kiểm tra và sẽ được chấp nhận nếu thỏa mãn những yêu cầu về đào tạo của quốc gia này. Đồng thời người nộp đơn sẽ phải trải qua một hoặc một số bài kiểm tra tại quốc gia được yêu cầu công nhận chứng chỉ để kiểm tra khả năng, kiến thức và kinh nghiệm, trừ khi người đó đã chứng minh được mình thỏa mãn những yêu cầu về kinh nghiệm tại quốc gia mà người đó nộp đơn đề nghị công nhận. Nếu người nộp đơn chưa đáp ứng đủ những điều kiện, người đó sẽ được bổ sung cho đầy đủ kinh nghiệm tại quốc gia được yêu cầu trước khi đủ điều kiện được công nhận.

Cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận và cấp giấy phép hành nghề sẽ được quy định trong các thỏa thuận tương ứng. khi được cấp giấy phép hành nghề, người nộp đơn sẽ được tiến hành cung cấp dịch vụ và phải tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật của quốc gia nơi người đó được cấp phép.

  • Một số văn bản pháp lý:
  • Điều 5 Hiệp định khung về thương mại dịch vụ ASEAN (AFAS) 1995
  • Khoản 1 Điều 17 Hiệp định thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA) 2019

Các thoả thuận ASEAN về thừa nhận lẫn nhau:

+Thỏa thận khung ASEAN thừa nhận lẫn nhau về hành nghề Dịch vụ Kỹ thuật năm 2005;

+ Thỏa thuận khung ASEAN thừa nhận lẫn nhau về hành nghề Điều dưỡng  năm 2006; Thỏa thuận khung ASEAN thừa nhận lẫn nhau về hành nghề Khảo sát năm 2007;

+ Thỏa thận khung ASEAN thừa nhận lẫn nhau về hành nghề Nha khoa  năm 2009; Thỏa thuận khung ASEAN thừa nhận lẫn nhau về hành nghề Y  năm 2009;

+ Thỏa thuận khung ASEAN thừa nhận lẫn nhau về hành nghề Kế toán và Kiểm toán năm 2009;

+ Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về hành nghề Du lịch năm 2012;

+ Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về hành nghề Cấp chứng chỉ tổ bay năm 2017.

2.3. Hình thức công nhận lẫn nhau trong ASEAN

Các hình thức công nhận lẫn nhau:

  • Ký kết hiệp định đa phương công nhận lẫn nhau (Multilateral Mutual recognition)
  • Ký kết hiệp định song phương công nhận lẫn nhau (Bilateral mutual recognition)
  • Hài hòa hóa (Harmonisation)
  • Đơn phương công nhận (Autonomous recognition)

Dựa trên các hình thức trên, tại hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 7 năm 2001, các nhà lãnh đạo ASEAN đã giao nhiệm vụ cho Uỷ ban điều phôi dịch vụ ASEAN (CCS) khởi động vòng đàm phán Hiệp định về công nhận lẫn nhau (MRA). Ủy ban điều phối dịch vụ đã thành lập một nhóm chuyên gia đặc biệt về MRA để bắt đầu đàm phán về các thỏa thuận công nhận lẫn nhau trong dịch vụ. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ. Ngoài ra còn có các thỏa thuận đa phương, song phương giữa các quốc gia hay sự đơn phương công nhận từ phía quốc gia tiếp nhận.

2.4. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động công nhận lẫn nhau trong ASEAN

Cơ chế công nhận lẫn nhau của ASEAN có ưu điểm đố là nó hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện, thỏa thuận giữa các quốc gia, không bắt buộc bất kỳ một quốc gia thành viên ASEAN nào phải chấp nhận hoặc phải tham gia các hiệp định và thỏa thuận công nhẫn lẫn nhau. Thông qua các hiệp định, thỏa thuận giữa các quốc gia hoặc hành vi đơn phương công nhận sẽ tạo ra cơ sở pháp lý để các nhà cung cấp dịch vụ có thể tiến hành cung cấp dịch vụ tại một quốc gia khác.

Hoạt động công nhận lẫn nhau có vai trò rất to lớn đối với thương mại dịch vụ của ASEAN. Các thỏa thuận công nhận lẫn nhau được ký kết nhằm công nhận chứng chỉ của các nhà cung cấp dịch vụ nghề nghiệp đến từ các quốc gia thành viên ASEAN. Nó đào tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ chuyên môn nước ngoài tiếp cận và thực hện hoạt động cung cấp dịch vụ tại thị trường dịch vụ tốt hơn từ nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau, đa dạng hóa ngành dịch vụ trong nước mà còn nâng cao tính cạnh tranh, thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển.

Công nhận lẫn nhau cùng với việc han chế và xóa bỏ các rào cản thương mại dịch vụ là phương thức để thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN. Thông qua hoạt động công nhận lẫn nhau sẽ thúc đẩy tự do hóa thương mại dịch vụ giữa các quốc gia thành viên ASEAN, tiến tới thành lập khu vực dịch vụ ASEAN.

Bài viết cùng chủ đề:

Phân tích ý nghĩa của hiến chương ASEAN

Phân tích quá trình hình thành và phát triển của ASEAN

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Phân tích cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của ASEAN. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *