Cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động

Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động không đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động, do vậy gặp rất nhiều trở ngại trong hoạt động kinh doanh. Do đó, tình trạng thuê giấy phép xuất khẩu lao động diễn ra ngày càng nhiều. Việc thuê giấy phép xuất khẩu lao động đã vi phạm những quy định gì của pháp luật? Điều này gây bất lợi gì cho hoạt động của doanh nghiệp?

Quy định về cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động

Quy định về cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động trong các văn bản pháp luật năm 2020

Hành vi “cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động” là việc sử dụng giấy phép của doanh nghiệp khác để phục vụ kinh doanh cho doanh nghiệp mình. Đây là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật, nếu vi phạm sẽ bị xử lí theo chế tài của pháp luật. Hành vi này vi phạm các quan hệ xã hội mà Nhà nước và pháp luật bảo vệ, tạo sự khó kiểm soát, theo dõi cho phía cơ quan quản lý nhà nước, có thể dẫn đến một loạt các sai phạm khác. Đồng thời, điều này cũng gây bất lợi cho chính người lao động khi đặt niềm tin sai chỗ, có thể sẽ bị thiệt hại về tài sản, hoặc gặp bất lợi khi lao động ở nước ngoài.

Căn cứ theo quy định tại khoản 5 điều 7 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020 quy định các hành vi bị cấm trong lĩnh vực này: “Hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng mà không có giấy phép; sử dụng giấy phép của doanh nghiệp khác hoặc cho người khác sử dụng giấy phép của doanh nghiệp để hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.”

Theo điểm a, b khoản 5 điều 41 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì cả doanh nghiệp cho thuê và doanh nghiệp đi thuê giấy phép xuất khẩu lao động của doanh nghiệp khác đều bị xử phạt vi phạm hành chính:

“5. Phạt tiền từ 180.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với doanh nghiệp dịch vụ có một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp khác để tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài;

b) Cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp mình để đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài…”

Ngoài ra, theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 16 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 2020, doanh nghiệp cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động sẽ phải nộp lại giấy phép xuất khẩu lao động và có thể sẽ bị thu hồi: 

“1. Doanh nghiệp dịch vụ phải nộp lại Giấy phép cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong trường hợp sau đây:

…d) Vi phạm quy định tại khoản 1, 2, 5, 6, 7, 8, 11, 12 hoặc 13 Điều 7 của Luật này…”

Cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động
Cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động

Quy định về cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động trong các văn bản pháp luật năm 2006

Tính tới thời điểm hiện tại, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2020 và các văn bản hướng dẫn chưa có hiệu lực (hiệu lực của các văn bản này tính từ ngày 01/01/2022). Như vậy hiện nay, nước ta vẫn đang áp dụng các quy định của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 2006 và Nghị định 126/2007 hướng dẫn thi hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 2006. Cụ thể như sau: 

– Căn cứ theo quy định tại khoản 2 điều 7 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

“…Sử dụng Giấy phép của doanh nghiệp khác hoặc cho người khác sử dụng Giấy phép của mình để hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài…”

Hành vi cho người khác sử dụng Giấy phép của mình để hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (hay còn gọi là hành vi “cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động”) là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.

– Theo quy định tại khoản 5 điều 29 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì cả doanh nghiệp cho thuê và doanh nghiệp đi thuê giấy phép xuất khẩu lao động của doanh nghiệp khác đều bị xử phạt vi phạm hành chính. Cụ thể như sau:

“5. Phạt tiền từ 180.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với doanh nghiệp có một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp khác để tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài;

b) Cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp mình để đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.”

Ngoài ra, theo điểm c khoản 1 điều 14 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: “1. Doanh nghiệp dịch vụ bị đình chỉ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong các trường hợp sau đây: …

c) Vi phạm quy định tại một trong các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 7 của Luật này thì bị đình chỉ hoạt động từ sáu tháng đến mười hai tháng, trừ trường hợp bị thu hồi Giấy phép theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 15 của Luật này.”

Đánh giá quy định của pháp luật về việc “cho thuê giấy phép xuất khẩu lao động”

So sánh 2 loại văn bản pháp luật đã trích dẫn ở trên (Luật người lao động nước ngoài năm 2006 và 2020, các nghị định hướng dẫn kèm theo), có thể nhận thấy rằng: Luật năm 2020 và 2006 đều có mức phạt hành chính từ 180.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng giấy phép xuất khẩu lao động của doanh nghiệp khác để đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và hành vi cho doanh nghiệp khác thuê, sử dụng giấy phép xuất khẩu lao động của doanh nghiệp mình.

Tuy nhiên, Luật năm 2020 không chỉ dừng lại ở việc xử phạt hành chính và đình chỉ hoạt động (tức là trong thời gian này, doanh nghiệp không được phép kí kết hợp đồng lao động, tuyển chọn lao động, đưa lao động ra nước ngoài) mà doanh nghiệp cho thuê còn phải nộp lại giấy phép xuất khẩu lao động cho Bộ thương binh- xã hội và sẽ có nguy cơ bị thu hồi giấy phép.

Tóm lại, hành vi thuê và cho thuê giấy phép là vi phạm pháp luật, có hình phạt chính là phạt tiền, hình phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép… Do đó, các doanh nghiệp cần lưu ý, tránh việc thuê và cho thuê giấy phép. Các doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để có thể tự xin giấy phép xuất khẩu lao động cho doanh nghiệp mình.

Đơn vị uy tín tư vấn giấy phép xuất khẩu lao động: Luật Thành Đô

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *