Nguyên tắc cấm dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Ra đời nguyên tắc cấm dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Tiền thân của nguyên tắc này là “quyền được tiến hành chiến tranh”, cho phép các quốc gia được sử dụng vũ lực để xâm chiếm các quốc gia khác hoặc để giải quyết tranh chấp.

Sự ra đời của Liên hợp quốc với bản Hiến chương của mình được đánh giá rất cao vì mục đích giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế. Tại khoản 4 điều 2 của Hiến chương này quy định rằng: “Trong quan hệ quốc tế, các hội viên Liên hợp quốc không được có hành động đe dọa bằng vũ lực hay dùng vũ lực để chống lại quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nến độc lập chính trị của bất cứ một nước nào, hoặc bằng cách này hay cách khác làm trái với những mục đích của Liên hợp quốc”.

Tuy nhiên, với quy định trên đây, Hiến chương Liên hợp quốc mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra tên gọi của nguyên tắc này, còn việc giải thích định nghĩa như thế nào là “vũ lực” và “đe dọa dùng vũ lực” trong quan hệ quốc tế đặt ra lại phụ thuộc vào cách hiểu của các quốc gia .

Vũ lực có thể được hiểu là sức mạnh về quân sự, chính trị, kinh tế hoặc ngoại giao mà QG này sử dụng bất hợp pháp với QG khác. Khái niệm vũ lực bao hàm cả việc QG này sử dụng lực lượng vũ trang không nhằm tấn công xâm lược quốc gia khác nhưng gây sức ép với QG đó như thực hiện các cuộc tập trận…và đó được coi là đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Việc sử dụng sức mạnh quân sự được coi là hình thức sử dụng VL nghiêm trọng nhất.   

Các văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận nguyên tắc: Tuyên bố của đại hội đồng liên hợp quốc năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của LQT; Tuyên bố của đại hội đồng liên hợp quốc năm 1974 về định nghĩa xâm lược; Định ước Henxinki năm 1975 về an ninh và hợp tác của các nước châu Âu; Tuyên bố của liên hợp quốc năm 1987 về “nâng cao hiệu quả của nguyên tắc khước từ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”.

Nguyên tắc cấm dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế
Nguyên tắc cấm dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế

 Nội dung của nguyên tắc cấm dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Nội dung của nguyên tắc cấm dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế bao gồm:

– Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác trái với các quy phạm của luật quốc tế;
– Cấm các hành vi trấn áp bằng vũ lực;

– Không được cho quốc gia khác sử dụng lãnh thổ nước mình để tiến hành xâm lược chống quốc gia thứ ba;

– Không tổ chức, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố tại quốc gia khác;

– Không tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ chức các băng nhóm vũ trang, lự lượng vũ trang phi chính quy, lính đánh thuê để đột nhập vào lãnh thổ quốc gia khác.

 Ngoại lệ của nguyên tắc cấm dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Trường hợp 1: Các quốc gia có quyền sử dụng lực lượng vũ trang để thực hiện quyền tự vệ hợp pháp, kể cả việc sử dụng biện pháp quân sự nhưng phải tuân thủ nguyên tắc tương xứng.

– Cơ sở pháp lý: Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc quy định”Không một điều khoản nào trong Hiến chương này làm thiệt hại đến quyền tự vệ cá thể hay tập thể một cách chính đáng, trong trường hợp hội viên Liên hợp quốc bị xâm lược vũ trang, cho đến khi Hội đồng bảo an ấn định những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.

Những biện pháp do các hội viên thi hành trong việc thực hiện quyền tự vệ chính đáng ấy phải được báo ngay cho Hội đồng bảo an biết và không được ảnh hưởng đến quyền hạn và nhiệm vụ của Hội đồng bảo an, mà theo Hiến chương này Hội đồng bảo an có thể bất cứ lúc nào áp dụng những hành động xét thấy cần thiết để duy trì và khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế”.

Như vậy, Hiến chương LHQ thừa nhận quyền tự vệ chính đáng của các quốc gia, nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là một hành vi “xâm lược”. Theo Nghị quyết 3314 của Đại hội đồng LHQ năm 1974 về định nghĩa xâm lược thì, xâm lược là việc một nước sử dụng lực lượng vũ trang tấn công, vi phạm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền độc lập chính trị của một nước khác, hoặc “dưới bất kỳ hình thức nào khác”.

– Tự vệ như thế nào được coi là hợp pháp? Theo điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc thì tiêu chí để xác định hành vi tự vệ hợp pháp là: có hành động tấn công vũ trang. Nếu hành vi tự vệ xảy ra sau khi có hành động tấn công vũ trang  là tự vệ hợp pháp, nếu hành vi tự vệ xảy ra trước khi có hành động tấn công vũ trang là tự vệ bất hợp pháp.

– Quyền tự vệ hợp pháp của quốc gia được thực hiện với điều kiện: quốc gia đó bị tấn công vũ trang trước; mức độ thực hiện tự vệ phải tương xứng với hành vi vi phạm, nếu vượt quá mức độ vi phạm thì hành vi tự vệ đó không được coi là tự vệ hợp pháp.

– Ngoài các vấn đề trên, Điều 51 Hiến chương cũng quy định, quyền tự vệ chính đáng của cá nhân hay tập thể chỉ được sử dụng “cho đến khi Hội đồng bảo an ấn định những biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế…”.

Như vậy, theo tinh thần của Hiến chương LHQ, quyền tự do hành động của quốc gia trong phạm vi tự vệ chính đáng chỉ là tạm thời. Một khi HĐBA đã quyết định hành động thì vụ việc đó sẽ được đặt dưới quyền quyết định của cơ quan này. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, quyền tự vệ chính đáng là cách duy nhất cho phép các quốc gia được sử dụng vũ lực một cách hợp pháp.

Do đó, sự can thiệp của HĐBA trong trường hợp này được coi như một cơ chế kiểm soát hữu hiệu nhằm tránh việc lạm dụng vũ lực từ phía các quốc gia.

Trường hợp 2: Các dân tộc thuộc địa được phép sử dụng tất cả các biện pháp vũ trang và phi vũ trang để thực hiện quyền dân tộc tự quyết.

Trường hợp 3: Sử dụng các biện pháp vũ trang và phi vũ trang trên cơ sở NQ của HĐBALHQ.

Bài viết cùng chủ đề:

Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia

Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của luật quốc tế

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Nguyên tắc cấm dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *