Các loại rủi ro trong vận chuyển hàng hải quốc tế

I. KHÁI QUÁT VỀ CÁC LOẠI RỦI RO TRONG VẬN CHUYỂN HÀNG HẢI QUỐC TẾ 

Trong một chuyến hành trình vận tải hàng hải quốc tế có thể xảy ra rất nhiều các hiểm hoạ, rủi ro khác nhau. Các rủi ro này cũng xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau, tạo ra mất mát, hư hỏng hàng hoá, thiệt hại về cả con người và vật chất. Hiểu rõ được các loại rủi ro có thể gặp phải là tiền đề quan trọng để xác định vấn đề bảo hiểm trong vận chuyển hàng hải. 

1.1. Khái niệm rủi ro

Rủi ro là những tai nạn, tai hoạ hoặc những mối đe doạ nguy hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất

Theo cố GS. Nguyễn Lân: “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may”. (Từ điển và ngữ Việt Nam, năm 1998, tr. 1540)

Theo từ điển Oxford: “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm, hoặc bị đau đớn, thiệt hại…”

Một số từ điển khác lại đề cập tương tự: “Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại”, “Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn”.

1.2. Khái niệm rủi ro trong vận chuyển hàng hải quốc tế

Trong lĩnh vực kinh doanh: “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”. “Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”.

Trong hợp đồng bảo hiểm, người ta quy định bồi thường những tốn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra. Trong quan hệ giữa tổn thất và rủi ro thì rủi ro gây ra tổn thất, hay nói một cách khác rủi ro là nguyên nhân của tổn thất. Rủi ro được bảo hiểm phải là những tai nạn bất ngờ ngoài biển, không phải là một rủi ro trên biển. Ví dụ: tàu bị đắm trong một cơn bão, mắc cạn,..

Từ đó có thể rút ra khái niệm: “Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây ra làm hư hỏng hàng hóa và phương tiện chuyên chở”.

II. PHÂN TÍCH CÁC LOẠI RỦI RO TRONG VẬN CHUYỂN HÀNG HẢI QUỐC TẾ

2.1. Căn cứ nguyên nhân gây rủi ro

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh có thể phân chia các loại rủi ro thành:

Thiên tai:

Thiên tai là hiệu ứng của một tai biến tự nhiên (ví dụ lũ lụt, bão, phun trào núi lửa, động đất, hay lở đất) có thể ảnh hưởng tới môi trường, và dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và/hay con người.

Trong hàng hải quốc tế: Thiên tai là những hiện tượng tự nhiên mà con người không chi phối được như biển động, bão, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần, động đất, đá lở,…Tuy nhiên việc xác định những hiện tượng tự nhiên này có phải là thiên tai hay không cần dựa vào các tiêu chuẩn của các ngành chuyên môn khí tượng, địa chất.

Tai nạn của biển: Là những tai nạn xảy ra đối với con tàu ở ngoài biển như: tàu mắc nạn, đắm, cháy nổ, đâm và vào nhau, đâm va phải đá ngầm, đâm va phải vật thể khác, tàu bị lật úp, bị mất tích, những rủi ro này được gọi là những rủi ro chính.

Các tai nạn này đều gây tổn thương đến con tàu và hàng hóa bị rò rỉ, mất mát, hư hỏng. 

Cháy: là hiện tượng mà xảy ra cháy nổ do kỹ thuật hay hàng hóa chứa trên tàu. Thường rủi ro này chia ra 2 loại: cháy bình thường và cháy nội tỳ. Cháy bình thường là do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, buộc phải tiêu hủy hoặc do sơ suất của người không được bảo hiểm. Cháy nội tỳ là do tính chất của hàng hóa chuyên chở có thể tự động bốc cháy như than, gas,.. 

Rủi ro đâm va: tàu bị đâm, va phải chướng ngại vật trên biển (đá ngầm, công trình xây dựng, tàu thuyền khác) đẫn đến hư hỏng, hành trình bị gián đoạn.

Rủi ro mất tích: là trường hợp mà tàu không thể đến được cảng quy định trong hợp đồng hoặc sau một khoảng thời gian quy định kể từ ngày tàu bị mất tín hiệu. Các nước khác nhau thì có quy định khác nhau với thời gian quy định này.

Mắc cạn: Khi đáy tàu chạm đất, chướng ngại vật làm tàu không thể di tải được gọi là mắc cạn. Chìm đắm khiến toàn bộ phần nổi của con tàu cùng hàng hóa nằm dưới nước. Trường hợp tàu hay phương tiện khác va vào nhau hoặc đâm vật thể (cố định, tải động, nổi) làm hàng hóa trên tàu bị xô lệch, xếp chồng lên nhau.

Các tai nạn bất ngờ khác: Là những thiệt hại do tác động ngẫu nhiên bên ngoài không thuộc những tai hoạ của biển nói trên. Tai nạn bất ngờ khác có thể xảy ra trên biển (Những nguyên nhân không phải là một tai hoạ của biển), trên hồ, trên sông, trong uqá trình vận chuyển xếp dỡ, giao nhận, lưu kho, bảo quản hàng hoá, như hàng bị vỡ, cong, bẹp, thối, hấp hơi, thiếu hụt, mất trộm, mất cắp,…Những rủi ro này được gọi là rủi ro phụ. 

Ngoài ra còn có các rủi ro do các hiện tượng chính trị, xã hội hoặc do lỗi của người được bảo hiểm gây nên như: chiến tranh, đỉnh công, khủng bố. 

Các rủi ro do bản chất hoặc tính chất đặc biệt của đối tượng bảo hiểm như nội tỳ hay ẩn tỳ

Ẩn tỳ: là tỳ vết dấu kín, khó phát hiện mà những kiểm tra thông thường trong giao, nhận hàng hoá không phát hiện được. Đa số các ẩn tỳ phải qua thời gian hoặc qua sử dụng mới được phát hiện.

Ví dụ: Những lỗi chế tạo máy móc thiết bị mà ban đầu khi kiểm tra khó có thể phát hiện được và đã gặp sự cố hỏng hóc khi đưa vào sử dụng

Nội tỳ: Là tỳ vết xảy ra do bản chất hàng hoá. Nội tỳ thường được sử dụng để mô tả nguyên nhân tốn thất do chính bản chất hàng hoá đó. Nguyên nhân này có thể là do sinh vật sống, côn trùng, vi khuẩn, nấm mốc… Hoạtd dộng dẫn dến sinh nhiệt, thối rữa, mốc mọt.

Ví dụ: Hàng nông sản thực phẩm bị mốc thối, nguyên nhân ban đầu được xác định là thông gió không tốt hoặc tiếc xúc với hàng hoá ẩm ướt khác. 

2.2. Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm

Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm, rủi ro được chia làm 3 loại

Những rủi ro thông thường được bảo hiểm

Là rủi ro được bảo hiểm một cách bình thường theo các điều kiện bảo hiểm. Là những rủi ro có tính chất bất ngờ, ngẫu nhiên, xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm.

Những ví dụ về rủi ro thông thường được bảo hiểm có thể kể đến là: Rủi ro do mắc cạn, chìm đắm, chảy nổ, mất tích…

Những rủi ro không được bảo hiểm: 

Loại này thường là rủi ro do hành vi cố ý của thuyền trưởng, thủy thủ cà những người có liên quan, những hao hụt tự nhiên.

Những rủi ro đặc biệt:

Là những rủi ro bị loại trừ đối với các điều kiện tiêu chuẩn, nếu chủ hàng hoặc tàu muốn được bảo hiểm thì phải mua riêng như: rủi ro chiến tranh, rủi ro đình công, khủng bố,…

Những rủi ro này muốn được bảo hiểm thì phải có thoả thuận thêm, thoả thuận riêng chứ không được bồi thường theo các điều kiện bảo hiểm gốc. Đây là những rủi ro bị loại trừ đối với bảo hiểm hàng hải nhưng vẫn có thể được bảo hiểm nếu mua bảo hiểm riêng.

2.3. Phân tích các loại rủi ro thường gặp và bảo hiểm đối với các rủi ro thường gặp trong hàng hải quốc tế

Rủi ro mắc cạn: Là trường hợp đáy tàu sát liền với đáy biển hoặc chạm phải một chướng ngại vật khác làm cho tàu không thể tiếp tục hành trình bình thường và thường phải nhờ đến sự trợ giúp của bên ngoài.

Để coi một con tàu nào đó là mắc cạn thì việc mắc cạn đó phải xảy ra do hậu quả của mộ sự kiễn ngẫu nhiên hoặc không bình thường nhưng làm cho tàu chạm phải đất hoặc một chướng ngại vật khác và phải dừng lại ở đó chờ sự giúp đỡ của bên ngoài mới có thể tiếp tục hành trình bình thường. Việc mắc cạn này có thể xảy ra ở bãi cát, trên đá hoặc ở những cây cọc gần cảng.

Trách nhiệm bảo hiểm: Trường hợp mắc cạn thuộc phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm là trường hợp có một sự can thiệp của một tác động bên ngoài. Nó phải là một sự khách quan, một tai nạn, một rủi ro chứ không phải chỉ là một sự việc xảy ra trong quá trình hàng hải bình thường.

Rủi ro đắm: Là việc một công cụ vận chuyển vị chìm hẳn xuống nước và không thể tiếp tục hành trình được nữa. Nếu tàu chỉ bị ngập một phần hoặc còn bập bềnh trên mặt nước thì không gọi là đắm. Vì trường hợp này thường xảy ra khi sóng to, gió lớn trước khi người ta chứng minh được là do tính chất của hàng hoá chở trên tàu không thể chìm sâu hơn nữa. Vì vậy, đối mặc với tàu thuyền ở trạng thái bình thường thì chỉ khi nào toàn bộ phần nổi trên bề mặc nước của tàu thuyền ở trạng thái bình thường thì chỉ khi nào toàn bộ phần nổi trên mặt nước của tàu thuyền đó bị chìm trong nước và không tiếp tục hành trình được nữa thì mới gọi là đắm. Trong trường hợp một chiếc tàu bị đắm, hành trình coi như không hoàn thành được.

Trách nhiệm bảo hiểm: Đối với rủi ro tàu đắm, trách nhiệm của người bảo hiểm cũng tương tự như rủi ro mắc cạn. Nghĩa là tổn thất bộ phận vẫn được bồi thường trong trường hợp người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm.

Rủi ro cháy: Cháy là trường hợp xảy ra phản ứng hoá học có toả nhiệt và phát ra ánh sáng. Lửa bốc cháy ở trên tàu là một vấn đề nghiêm trọng vì so với một vụ cháy ở trên bờ thì khó dập tắt hơn. Theo quan niệm thông thường, lửa phải đến một mức độ nào đó mới gọi là một vụ cháy, lửa phải đến mức làm cho hành trình của tàu bị gián đoạn. Chứ nếu chỉ làm hòng một phần cơ cấu của tàu thì không gọi là rủi ro cháy. Cháy to hay cháy nhỏ đều thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.

Theo mẫu hợp đồng thông thường, bảo hiểm chịu trách nhiệm về cháy kể cả trường hợp cháy do sét đánh hoặc cháy do hơi khói. Ngoài ra, bảo hiểm còn nhận bồi thường những trường hợp cháy do sơ suất hoặc vô ý của thuyền trưởng hay thuỷ thủ.

Trách nhiệm bảo hiểm: Bảo hiểm cũng chịu trách nhiệm bồi thường nếu tàu cháy trong hoàn cảnh chính đáng như đốt cháy để khỏi bị bắt hoặc để tiêu diệt mộ loại bệnh truyền nhiễm. Nhưng bảo hiểm không bồi thường những trường hợp bốc cháy tự phát do bản thân hàng hoá gây ra. Để bác bỏ trách nhiệm của mình trong những trường hợp đó, bảo hiểm phải chứng minh là hàng hoá đã xếp lên tàu trong tình trạng không thích hợp. Ví dụ: gai, đay hay than là những loại hàng hoá được xếp xuống tàu, gai có thể bị ẩm ướt nên sinh ra cháy thì bảo hiểm không phải bồi thường. Tuy nhiên, nếu hàng bốc cháy tự phát mà cháy lan sang những hàng hoá khác thì bảo hiểm lại chịu trách nhiệm bồi thường về những hàng cháy lan này. Những tổn thất do chữa cháy gây ra đối với hàng hoá đều được bồi thường.

Rủi ro đâm va:

Đâm va là trường hợp phương tiện vận chuyển va chạm với các vật thể chuyển động hay cố định khác. Tai nạn đâm va chỉ hạn chế trong trường hợp chuyển động hay cố định khác. Tai nạn đâm va chỉ hạn chế trong trường hợp tài này đâm vào tàu khác theo như quy định của điều khoản đâm va.

Thông thường, nếu trường hợp cả hai tàu cùng có lỗi thì người ta giải quyết theo trách nhiệm hơn. Đây là hình thước giải quyết đơn giản nhất. Theo hình thức này chủ tàu bị tổn thất ít sẽ phải trả cho tàu kia ½ số chênh lệch giữa tổn thất của cả hai tàu.

Trách nhiệm bảo hiểm: 

Trong trường hợp 2 tàu đâm va vào nhau, thường xảy ra 3 trường hợp:

– Cả hai tàu đều không có lỗi: Ví dụ hai tàu đậu gần nhau gặp bão lớn xô vào nhau. Như vậy cả hai tàu đều không có lỗi, do đó không phân chia trách nhiệm đâm va. Rủi ro gây nên tổn thất cho bên nào thì bên đó chịu. Nếu chủ tàu có mua bảo hiểm thì nếu tàu bị thiệt hại, nhà bảo hiểm phải bồi thường cho người chủ tàu. – Trường hợp một bên hoàn toàn có lỗi Bên có lỗi sẽ bồi thường cho bên kia toàn bộ những tổn thất do rủi ro đâm va gây ra. Nếu chủ tàu có mua bảo hiểm thì nhà bảo hiểm sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất của tàu của người được bảo hiểm và kể cả những tổn thất mà người được bảo hiểm phải đền bù cho tàu bị đâm va. 

– Trường hợp cả hai bên đều có lỗi Có thể do sơ suất trong việc lái tàu. Trước đây nếu trường hợp 2 tàu đều có lỗi thì người ta giải quyết theo cách gọi là trách nhiệm đơn (Single Liability). Đây là hình thức giải quyết đơn giản nhất. Theo đó, nếu chủ tàu bị tổn thất ít sẽ phải trả cho chủ tàu kia 1/2 số chênh lệch tổn thất giữa 2 tàu. Hiện nay tập quán chung quốc tế trong trường hợp đâm va cả hai bên cùng có lỗi thường được giải quyết theo cách gọi là trách nhiệm chéo (Cross Liability). Theo cách này người ta phân định mức độ lỗi của đôi bên để giải quyết việc bồi thường cho hợp lí.

Rủi ro tàu mất tích: 

Trong trường hợp một chiếc tàu không đến được cảng đã quy định và sau một thời gian hợp lý không nhận được tin tức gì về tàu đó thì người ta coi là con tàu đã mất tích. Tuy nhiên, thế nào là một thời gian hợp lý thì còn phải xem xét tuỳ thuộc vào loại tàu, loại hàng, tính chất hành trình và con đường dài ngắn khác nhau. Hơn nữa, thời gian này còn phải tuỳ thuộc vào luật lệ cụ thể của từng nước.

Trách nhiệm bảo hiểm: Theo quy định tại điều 333 Bộ luật Hàng hải 2015

Trường hợp tàu biển mất tích là tàu biển được bảo hiểm có thời hạn, người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường nếu đã nhận được tin cuối cùng về tàu biển trước khi kết thúc thời hạn bảo hiểm. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường nếu chứng minh được tàu biển mất tích sau khi thời hạn bảo hiểm kết thúc.

Rủi ro do dành vi vi phạm pháp luật của thuyền trưởng và thuỷ thủ:

Hành vi vi phạm pháp luật là một trong những rủi ro được bảo hiểm, nó bao hàm khái niệm xảo trá hay lừa gạt của thuyền trưởng hoặc thuỷ thủ gây ra đối với hàng hoá hoặc tàu có hại cho chủ tàu hoặc người thuê tàu.

Hành vi vi phạm pháp luật là thuật ngữ dùng để chỉ mọi hành động vi phạm pháp luật hoặc những sai lầm cố ý của thuyền trưởng, thuỷ thủ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ tàu hoặc hàng hoá.  Nhưng thuật ngữ hành vi vi phạm pháp luật này không bao gồm những sau lầm về cách xét đoán, giải quyết vấn đề hoặc những sai lầm do bất cẩn thông thường gây ra. 

Trách nhiệm bảo hiểm: Thông thường trong những trường hợp này, quyền lợi của người được bảo hiểm dễ bị ảnh hưởng. Vì vậy, giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm phải có thoả thuận bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm pháp luật hay do lỗi của chủ tàu hay đại lý của họ gây ra.

     Từ những phân tích trên có thể nắm được đặc điểm, phân loại và tính chất của các rủi ro trong vận chuyển hàng hải quốc tế. Nắm được trách nhiệm bảo hiểm đối với các loại rủi ro này. Từ đó có thể tạo điều kiện thuận lợi cho cả bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm trong quá trình đàm phán, thoả thuận các hợp đồng bảo hiểm. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *