Những thông tin cần biết về bảo lưu điều ước quốc tế

Khái niệm bảo lưu điều ước quốc tế

Bảo lưu điều ước quốc tế là hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số điều khoản nhất định của điều ước mà QG đó là thành viên.

Những điều khoản đó gọi là những điều khoản bị bảo lưu.

bảo lưu điều ước quốc tế
bảo lưu điều ước quốc tế

Ví dụ: Tại Quyết định số 332/2004/QĐ-CTN, Điều 2: Cộng hòa XHCN VN…tuyên bố bảo lưu các quy định tại Điều 33 của CƯ Berne và áp dụng chế độ ưu đãi dành cho các nước đang phát triển theo Điều II và Điều III của Phụ lục Công ước”

Hệ quả: Sẽ không giải quyết ở TA Quốc tế và như vậy các bên phải thương lượng tìm ra cách giải quyết tốt nhất.

VD2: VN bảo lưu khoản 2 Điều 66 Công ước CAC (CU chống tham nhũng của LHQ): Nếu có tranh chấp về cách giải thích, áp dụng CU mà không thương lượng hoặc giải quyết bằng con đường TT được thì thành viên CU có quyền đưa vụ việc ra TA tư pháp QT để giải quyết.

Vn cũng tuyên bố không ràng buộc áp dụng một số quy định mang tính tùy nghi không bắt buộc áp dụng của CU như quy định hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp, hành vi tham nhũng trong khu vực, cho phép truy cứu TNHS với cả pháp nhân…thời điểm đó Vn Giải thích với lý do chưa được PL trong nước quy định hoặc quy định chưa cụ thể, cần thời gian để điều chỉnh cho phù hợp với HP và PLQG.

 Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế ghi nhận “Bảo lưu điều ước quốc tế là hành động đơn phương bất kể cách viết hoặc tên gọi như thế nào của một quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặ gia nhập điều ước đó, nhằm qua đó laọi trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số quy định của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó”. Như vậy, bảo lưu được thừa nhận là quyền của các chủ thể luật quốc tế, tuy nhiên quyền này không phải là tuyệt đối, sẽ bị hạn chế trong một số TH sau:

  • ĐUQT ngăn cấm bảo lưu (VD: Công ước Luật Biển cấm các quốc gia bảo lưu bất kỳ điều khoản nào của Công ước);
  • ĐU chỉ cho phép bảo lưu những Đ – K nhất định;
  • Bảo lưu không phù hợp với đối tượng và mục đích của ĐƯ.

Việc bảo lưu điều ước quốc tế chỉ có thể được thực hiện đối với các điều ước quốc tế đa phương. Đối với các điều ước quốc tế song phương, việc một bên đưa ra tuyên bố bảo lưu sẽ được coi như một đề nghị thỏa thuận lại, ký kết điều ước mới.

Thời điểm: Quốc gia có thể đưa ra tuyên bố bảo lưu vào thời điểm quốc gia thực hiện các hành vi nhằm xác nhận sự ràng buộc của một điều ước đối với quốc gia đó (Ký, PC, PD, gia nhập).

Trình tự thực hiện bảo lưu điều ước quốc tế

– Trong trường hợp điều ước quốc tế quy định rõ điều khoản nào được bảo lưu thì việc bảo lưu đới với điều khoản đó không cần tới sự đồng ý rõ ràng và riêng biệt từ phía các quốc gia ký kết khác. Khi đó, quốc gia sẽ chỉ tuyên bố bảo lưu trong phạm vi mà điều ước cho phép và tuân theo quy định của ĐƯ về trình tự, thủ tục bảo lưu.

– Riêng với trường hợp điều ước quốc tế không có điều khoản quy định liên quan đến bảo lưu thì, trừ khi các bên có thỏa thuận khác, CƯ Viên 1969 quy định về thủ tục bảo lưu như sau:

+ Việc bảo lưu phải được tất cả các quốc gia thành viên chấp nhận nếu số quốc gia đàm phán có hạn hoặc việc thi hành toàn bộ điều ước là điều kiện dẫn tới sự chấp nhận ràng buộc của các bên đối với điều ước. Một bảo lưu coi như được một quốc gia chấp nhận nếu quốc gia đó không phản đối trong vòng 12 tháng kể từ ngày nhận được thông báo về bảo lưu;

+ Nếu điều ước quốc tế là văn kiện về thành lập tổ chức quốc tế thì bảo lưu phải được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của tổ chức đó.

+ Việc tuyên bố bảo lưu, sự phản đối bảo lưu và sự đồng ý với bảo lưu phải được thể hiện dưới hình thức văn bản và thông báo một cách công khai cho các quốc gia thành viên, riêng trường hợp đồng ý bảo lưu có thể được thể hiện dưới dạng im lặng.

+ Quốc gia tuyên bố bảo lưu có quyền rút bảo lưu trong bất kỳ thời gian nào. Trong trường hợp này, sự đồng ý từ phía các quốc gia công nhận bảo lưu là không cần thiết.

+ Tuyên bố về phản đối bảo lưu cũng có thể được quốc gia tuyên bố hủy bỏ vào bất kỳ thời gian nào nhưng phải đựoc thể hiện dưới hình thức văn bản.

Hệ quả pháp lý của bảo lưu điều ước quốc tế

Bản chất của bảo lưu không nhằm đưa các điều khoản bị bảo lưu ra khỏi nội dung của một điều ước quốc tế, nhưng về tổng thể quan hệ giữa các quốc gia thành viên của một điều ước sẽ thay đổi trong phạm vi có bảo lưu. Theo đó: Điều khoản không bị bảo lưu vẫn có hiệu lực và các bên phải thực hiện điều khoản này.

Đối với các ĐK bị bảo lưu thì:

– Quan hệ giữa quốc gia bảo lưu và quốc gia chấp nhận bảo lưu được thực hiện bằng các điều ước quốc tế, trừ các điều khoản liên quan đến bảo lưu.

– Quan hệ giữa quốc gia bảo lưu và quốc gia phản đối bảo lưu vẫn được điều chỉnh bằng điều ước quốc tế đó, không loại trừ các điều khoản bảo lưu không được chấp nhận. Tuy nhiên, từ việc phản đối bảo lưu do một quốc gia đưa ra, cũng có thể làm cho quốc gia bảo lưu điều ước quốc tế và quốc gia phản đối bảo lưu không còn tồn tại quan hệ điều ước. Điều này phụ thuộc vào quan điểm của mỗi bên.

bảo lưu điều ước quốc tế
bảo lưu điều ước quốc tế

bài viết cùng chủ đề:

Các trường hợp điều ước quốc tế có hiệu lực với bên thứ ba

Phân tích các hành vi thể hiện sự ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế

Trên đây là tư vấn của luatthanhmai về chủ đề Những thông tin cần biết về bảo lưu điều ước quốc tế. Nếu có thắc mắc hay vấn đề cần được tư vấn vui lòng liên hệ email: luathanhmai@gmail.com để được luật sư tư vấn hỗ trợ miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *