Các yêu cầu khi áp dụng hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính

Xử phạt vi phạm hành chính là một loạt hoạt động cưỡng chế hành chính cụ thể mang tính quyền lực nhà nước , phát sinh khi có vi phạm hành chính , biểu hiện ở việc áp dụng chế tài hành chính mang tính trừng phạt gây cho đối tượng bị áp dụng thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần và do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật.

Phạt tiền là một trong các hình thức xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại  Điều 23 Luật xử lí vi phạm hành chính năm 2012. Hình thức phạt tiền là biện pháp cưỡng chế hành chính được quy định sớm nhất trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta, được áp dụng đối với hầu hết các loại vi phạm hành chính. Hình thức này đóng vai trò chủ yếu trong trong hệ thống các hình thức xử phạt hành chính.

Hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính
Hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính

Về đối tượng áp dụng hình thức phạt tiền

Cá nhân từ đủ 16 trở lên, tổ chức vi phạm hành chính là đối tượng bị áp dụng hình thức phạt tiền. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên, trường hợp không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay (theo khoản 3 Điều 134 Luật này). Người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính chỉ bị phạt cảnh cáo không bị phạt tiền.

Về mức phạt tiền chung

Theo quy định tại khoản 1 điều 23, mức phạt tiền đối với cá nhân là từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng ; đối với tổ chức từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng, trừ trường hợp mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực thuế, đo lường, sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, chứng khoán, hạn chế cạnh tranh quy định tại Khoản 3 Điều 24 của Luật này. Đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 2 lần mức phạt chung.

Về thẩm quyền quy định khung tiền phạt, mức tiền phạt

Khoản 2, Khoản 3 của Điều 23 quy định thẩm quyền định khung tiền phạt và mức phạt:

Theo đó, Chính phủ có thẩm quyền quy định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt cho các hành vi vi phạm hành chính nhưng không vượt quá mức tiền phạt tối đa nêu ở trên. Chính phủ quy định bằng một trong hai phương thức là xác định số tiền phạt tối thiểu, tối đa hoặc xác định số lần, tỷ lệ phần trăm của giá trị, số lượng hàng hóa, tang vật vi phạm, đối tượng bị vi phạm hoặc doanh thu, số lợi thu được từ vi phạm hành chính.

Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương quyết định khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực giao thông đường bộ, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương dựa trên quy định của Chính phủ và đặc điểm của địa phương.

Về nguyên tắc định mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính cụ thể

được quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật xử lý vi phạm hành chính

Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó.

Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt.

Nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt.

Về mức tiền phạt tối đa trong mỗi lĩnh vực

Mức tiền phạt tối đa đối với từng lĩnh vực được quy định chi tiết tại Luật xử lý vi phạm hành chính

luatthanhmai.com
luatthanhmai.com

Về thủ tục xử phạt

Nếu mức phạt tiền đối với cá nhân đến 250000 đồng, đối với tổ chức đến 500000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định tại chỗ mà không cần lập biên bản ( trừ trường hợp xử phạt được truy tìm bằng phương tiện, thiết bị, kĩ thuật nghiệp vụ). Nếu mức phạt từ 250000 đồng trở lên với cá nhân, 50000 đồng trở lên với tổ chức, thì người có thẩm quyền cần phải: lập biên bản vi phạm hành chính, xác định các tình tiết của vụ việc, xác định giá trị tang vật, thực hiện thủ tục giải trình sau đó mới ra quyết định xử phạt. (Điều 59, 60,61, khoản 1 điều 66 Luật xử lí vi phạm hành chính 2012).

Bài viết liên quan:

Phân tích các trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *